Tính trợ cấp thôi việc theo lương cơ bản hay tổng thu nhập?
Trợ cấp thôi việc được tính theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, không phải lương cơ bản tối thiểu cũng không phải tổng thu nhập thực nhận.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương dùng để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi nghỉ việc.
Điều này có nghĩa căn cứ tính không phải là lương cơ bản, cũng không phải toàn bộ tổng thu nhập thực nhận hàng tháng, mà là mức lương được ghi nhận cụ thể trong hợp đồng lao động. Khoản này thường bao gồm:
- Mức lương công việc/chức danh ghi trong hợp đồng
- Các khoản phụ cấp lương được thỏa thuận là một phần tiền lương
- Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể, trả thường xuyên theo hợp đồng
Ngược lại, các khoản như thưởng KPI, thưởng tháng 13, hoa hồng, hay phụ cấp xăng xe, điện thoại, cơm trưa, ... nếu không được ghi trong hợp đồng thì đều bị loại trừ.

Tính trợ cấp thôi việc theo lương cơ bản hay tổng thu nhập?
Có được cộng dồn tổng thời gian làm việc của tất cả các công ty để tính trợ cấp thôi việc không?
Không được cộng dồn thời gian ở tất cả công ty khác nhau để tính chung trợ cấp thôi việc, trừ trường hợp doanh nghiệp kế thừa nghĩa vụ lao động theo luật.
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP trợ cấp thôi việc được tính dựa trên thời gian thực tế làm việc tại mỗi đơn vị riêng biệt mà người lao động chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp và chưa nhận trợ cấp trước đó. Do vậy, không được cộng dồn tổng thời gian làm việc của tất cả các công ty khác nhau để tính chung trợ cấp một lần, mà được xác định riêng theo từng người sử dụng lao động.
Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp sáp nhập/mua lại thì doanh nghiệp kế thừa tiếp tục sử dụng người lao động và kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ. Khi đó, thời gian làm việc tại công ty cũ được tính cộng dồn vào công ty mới để tính chế độ cho người lao động.
Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày thì có tính lãi suất không?
Có thể có. Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày (hoặc quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt) có khả năng phải trả thêm lãi khi bị xử phạt hoặc có tranh chấp được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Trong trường hợp đặc biệt thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
Tại khoản 4 Điều 12 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi Không trả trợ cấp thôi việc hoặc Trả không đủ số tiền phải trả. Khi đó, ngoài việc buộc thanh toán đủ số tiền còn thiếu, doanh nghiệp còn có thể phải trả thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chưa trả hoặc trả thiếu, theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Đối với trường hợp trả chậm, việc có phải trả lãi hay không không phải lúc nào cũng tự động áp dụng như trường hợp không trả hoặc trả thiếu. Nếu đến thời điểm cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra mà doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán khoản trợ cấp này, hành vi thường được xem là chưa trả và có khả năng bị buộc trả thêm lãi.
Ngược lại, nếu công ty đã thanh toán đầy đủ trước khi bị lập biên bản nhưng thanh toán muộn so với thời hạn luật định, doanh nghiệp vẫn có thể bị xử lý về hành vi trả không đúng thời hạn, còn việc áp dụng nghĩa vụ trả lãi sẽ phụ thuộc vào cách xác định vi phạm và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];