Có được cộng dồn tổng thời gian làm việc của tất cả các công ty để tính trợ cấp thôi việc không?
Không được cộng dồn thời gian ở tất cả công ty khác nhau để tính chung trợ cấp thôi việc, trừ trường hợp doanh nghiệp kế thừa nghĩa vụ lao động theo luật.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP trợ cấp thôi việc được tính dựa trên thời gian thực tế làm việc tại mỗi đơn vị riêng biệt mà người lao động chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp và chưa nhận trợ cấp trước đó. Do vậy, không được cộng dồn tổng thời gian làm việc của tất cả các công ty khác nhau để tính chung trợ cấp một lần, mà được xác định riêng theo từng người sử dụng lao động.
Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp sáp nhập/mua lại thì doanh nghiệp kế thừa tiếp tục sử dụng người lao động và kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ. Khi đó, thời gian làm việc tại công ty cũ được tính cộng dồn vào công ty mới để tính chế độ cho người lao động.
Có được cộng dồn tổng thời gian làm việc của tất cả các công ty để tính trợ cấp thôi việc không?
Phải làm việc bao nhiêu năm thì mới được nhận trợ cấp thôi việc?
Căn cứ Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 người lao động được nhận trợ cấp thôi việc khi đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên cho người sử dụng lao động và chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, không thuộc các trường hợp bị loại trừ.
Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày thì có tính lãi suất không?
Có thể có. Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày (hoặc quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt) có khả năng phải trả thêm lãi khi bị xử phạt hoặc có tranh chấp được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
Trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động có thể phải chờ đến 30 ngày để nhận trợ cấp thôi việc như sau:
- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
- Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
- Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
Tại khoản 4 Điều 18 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định quy định về biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi Không trả trợ cấp thôi việc hoặc Trả không đủ số tiền phải trả. Khi đó, ngoài việc buộc thanh toán đủ số tiền còn thiếu, doanh nghiệp còn có thể phải trả thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chưa trả hoặc trả thiếu, theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Đối với trường hợp trả chậm, việc có phải trả lãi hay không không phải lúc nào cũng tự động áp dụng như trường hợp không trả hoặc trả thiếu. Nếu đến thời điểm cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra mà doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán khoản trợ cấp này, hành vi thường được xem là chưa trả và có khả năng bị buộc trả thêm lãi.
Ngược lại, nếu công ty đã thanh toán đầy đủ trước khi bị lập biên bản nhưng thanh toán muộn so với thời hạn luật định, doanh nghiệp vẫn có thể bị xử lý về hành vi trả không đúng thời hạn, còn việc áp dụng nghĩa vụ trả lãi sẽ phụ thuộc vào cách xác định vi phạm và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];
