Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày thì có tính lãi suất không?
Có thể có. Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày (hoặc quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt) có khả năng phải trả thêm lãi khi bị xử phạt hoặc có tranh chấp được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Trong trường hợp đặc biệt thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
Tại khoản 4 Điều 18 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi Không trả trợ cấp thôi việc hoặc Trả không đủ số tiền phải trả. Khi đó, ngoài việc buộc thanh toán đủ số tiền còn thiếu, doanh nghiệp còn có thể phải trả thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chưa trả hoặc trả thiếu, theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Đối với trường hợp trả chậm, việc có phải trả lãi hay không không phải lúc nào cũng tự động áp dụng như trường hợp không trả hoặc trả thiếu. Nếu đến thời điểm cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra mà doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán khoản trợ cấp này, hành vi thường được xem là chưa trả và có khả năng bị buộc trả thêm lãi.
Ngược lại, nếu công ty đã thanh toán đầy đủ trước khi bị lập biên bản nhưng thanh toán muộn so với thời hạn luật định, doanh nghiệp vẫn có thể bị xử lý về hành vi trả không đúng thời hạn, còn việc áp dụng nghĩa vụ trả lãi sẽ phụ thuộc vào cách xác định vi phạm và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Công ty chậm trả trợ cấp thôi việc quá 14 ngày thì có tính lãi suất không?
Trợ cấp thôi việc được nhận trong trường hợp nào?
Căn cứ Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên và chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp.
Cụ thể như sau:
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng làm phát sinh trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc được quy định tại Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, gồm:
(1) Hết hạn hợp đồng lao động;
(2) Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
(3) Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
(4) Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
(6) Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
(7) Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
(8) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
(9) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Lao động 2019.
(10) Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Trợ cấp thôi việc có được trả nhiều đợt không hay phải trả một lần?
Có thể được trả nhiều đợt nếu có thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Hiện nay không có quy định bắt buộc người sử dụng phải thanh toán tiền trợ cấp thôi việc 1 lần hay được phép chia nhỏ từng đợt để trả, chỉ yêu cầu phải chi trả hoàn tất khoản tiền này cho người lao động trong thời hạn 14 ngày (hoặc 30 ngày trong trường hợp đặc biệt) kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019.
Bản chất của trợ cấp thôi việc là khoản tiền nhằm hỗ trợ người lao động ổn định tài chính tạm thời, do đó khoản tiền này thông thường được trả một lần khi nghỉ việc. Nếu hai bên có thỏa thuận về việc chia nhỏ khoản trợ cấp thành nhiều đợt chi trả phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc này có thể được thực hiện. Tuy nhiên, nghĩa vụ cuối cùng vẫn là hoàn trả đủ 100% trợ cấp thôi việc cho người lao động.
Đồng thời nên thỏa thuận rõ ràng bằng văn bản để tránh tranh chấp về sau.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];