Công ty phá sản thì người lao động được nhận trợ cấp mất việc hay trợ cấp thôi việc?
Theo khoản 7 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động chấm dứt khi người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động. Điều khoản này không trực tiếp đề cập đến trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản, nhưng khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động theo quy định pháp luật có thể dẫn đến chấm dứt quan hệ lao động.
Theo khoản 4 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025, phá sản là tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và đã có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án. Đồng thời, theo điểm d khoản 2 Điều 65 Luật Phục hồi, phá sản 2025, quyết định tuyên bố phá sản có nội dung chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, chấm dứt hợp đồng lao động và giải quyết quyền lợi của người lao động.
Về quyền lợi của người lao động, căn cứ khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên được hưởng trợ cấp thôi việc khi hợp đồng lao động chấm dứt thuộc các trường hợp luật định, trong đó có khoản 7 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019 (trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019).
Mức trợ cấp bằng một nửa tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc được tính hưởng trợ cấp; thời gian tính hưởng được xác định sau khi trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Trong khi đó, theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, trợ cấp mất việc làm áp dụng đối với người lao động bị mất việc theo khoản 11 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, tức là trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo Điều 42 hoặc Điều 43 Bộ luật Lao động 2019. Vì vậy, không thể mặc nhiên áp dụng trợ cấp mất việc làm chỉ vì doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản.
Như vậy, khi doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản dẫn đến chấm dứt hoạt động và chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 7 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có thể được hưởng trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, không mặc nhiên được hưởng trợ cấp mất việc làm.

Công ty phá sản thì người lao động được nhận trợ cấp mất việc hay trợ cấp thôi việc? (Hình từ Internet)
Công thức tính tiền trợ cấp mất việc hiện nay như thế nào?
Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP công thức tính tiền trợ cấp mất việc hiện nay như sau:
Tiền trợ cấp = Thời gian làm việc tính trợ cấp x Tiền lương bình quân 6 tháng
Trong đó:
Thời gian hưởng trợ cấp = Tổng thời gian làm việc thực tế (1) - Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp (2) - Thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc (3)
(1) Tổng thời gian làm việc thực tế bao gồm các khoảng thời gian:
- Trực tiếp làm việc và thử việc;
- Được người sử dụng lao động cử đi học;
- Nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội như ốm đau, thai sản và nghỉ điều trị, phục hồi chức năng khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà lương do người sử dụng lao động trả;
- Nghỉ để thực hiện nghĩa vụ công mà được người sử dụng lao động trả lương;
- Ngừng việc không do lỗi của người lao động;
- Nghỉ hằng tuần;
- Nghỉ việc hưởng nguyên lương;
- Thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại điện người lao động;
- Bị tạm đình chỉ công việc.
(2) Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp là khoảng thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng đã được doanh nghiệp chi trả cùng với tiền lương một khoản tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc sẽ được làm tròn theo từng năm một (12 tháng).
- Năm có lẻ ít hơn hoặc bằng 6 tháng được tính là 1/2 năm.
- Lớn hơn 6 tháng thì làm tròn là 1 năm.
Nếu công ty không trả trợ cấp mất việc làm thì người lao động có quyền khởi kiện không?
Có, theo Điều 188 Bộ luật Lao động 2019 nếu công ty không trả trợ cấp mất việc làm thì người lao động có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình
Cụ thể, theo điểm b khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động
1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
....
...
Theo đó, tranh chấp lao động cá nhân về trợ cấp (trong đó có trợ cấp mất việc làm) khi chấm dứt hợp đồng lao động không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải mà người lao động có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết theo quy định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];