Mức lương chính thức dùng làm căn cứ tính lương thử việc có được thấp hơn lương tối thiểu vùng không?
Không. Mức lương chính thức dùng làm căn cứ tính lương thử việc không được thấp hơn lương tối thiểu vùng.
Cụ thể như sau:
Theo khoản 2 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.
Trong thời gian thử việc, tiền lương do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó theo Điều 26 Bộ luật Lao động 2019.
Như vậy, lương chính thức là mức tiền lương làm căn cứ để xác định ít nhất 85% tiền lương thử việc và bản thân mức lương chính thức phải bảo đảm không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Ví dụ, nếu mức lương chính thức của công việc là 6 triệu đồng/tháng thì tiền lương thử việc ít nhất là 85% của 6 triệu đồng, tương đương 5,1 triệu đồng/tháng.
Do đó, doanh nghiệp không được thỏa thuận mức lương chính thức thấp hơn lương tối thiểu vùng rồi lấy mức lương này làm căn cứ tính 85% tiền lương thử việc. Mức lương chính thức trước hết phải đáp ứng quy định về mức lương tối thiểu.

Mức lương chính thức dùng làm căn cứ tính lương thử việc có được thấp hơn lương tối thiểu vùng không?
Mức lương tối thiểu vùng hiện nay là bao nhiêu?
Mức lương tối thiểu vùng hiện nay không áp dụng chung một mức, mà được phân theo từng khu vực cụ thể. Doanh nghiệp phải áp dụng đúng theo địa bàn nơi người lao động làm việc.
Chi tiết 4 mức lương tối thiểu vùng theo Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP như sau:
- Vùng 1: 5.310.000 đồng/tháng
- Vùng 2: 4.730.000 đồng/tháng
- Vùng 3: 4.140.000 đồng/tháng
- Vùng 4: 3.700.000 đồng/tháng
Ngoài ra, nếu trả lương theo giờ thì mức tối thiểu tương ứng:
- Vùng 1: 25.500 đồng/giờ
- Vùng 2: 22.700 đồng/giờ
- Vùng 3: 20.000 đồng/giờ
- Vùng 4: 17.800 đồng/giờ
Việc áp dụng địa bàn vùng được xác định theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động như sau:
- Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
- Người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
- Người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.
- Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn có sự thay đổi tên hoặc chia thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi thay đổi tên hoặc chia cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
- Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
Khi kết thúc thời gian thử việc thì người sử dụng lao động có trách nhiệm gì?
Tại Điều 27 Bộ luật Lao động 2019 quy định về kết thúc thời gian thử việc như sau:
Kết thúc thời gian thử việc
1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.
Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.
2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
Theo đó, sau khi kết thúc thời gian thử việc thì người sử dụng lao động có trách nhiệm phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Nếu người lao động thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải ký hợp đồng chính thức với họ (trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết).
Nếu thử việc không đạt thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc với người lao động.
Lưu ý: Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];