Quy định về kỳ hạn trả lương cho người lao động năm 2026 ra sao?
Căn cứ vào Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định về kỳ hạn trả lương như sau:
- Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
- Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
- Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Quy định về kỳ hạn trả lương cho người lao động năm 2026 ra sao? (Hình từ Internet)
Mức tiền lương bao nhiêu thì doanh nghiệp bắt buộc phải trả qua tài khoản?
Căn cứ Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Hình thức trả lương
1. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
2. Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.
Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Theo đó, tiền lương có thể được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng và được người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
Như vậy, không có quy định nào quy định nhận lương từ bao nhiêu tiền thì bắt buộc phải chuyển khoản ngân hàng.
Làm thêm giờ bao nhiêu là vi phạm pháp luật?
Làm thêm giờ vượt quá giới hạn về thời gian hoặc không đáp ứng các điều kiện luật định có thể bị xem là vi phạm pháp luật. Đồng thời không được tổ chức làm thêm vượt quá 40 giờ/tháng, 200 giờ/năm hoặc 300 giờ/năm trong trường hợp được pháp luật cho phép.
Cụ thể như sau:
Theo khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 người sử dụng lao động chỉ được tổ chức cho người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, trong đó có điều kiện phải được người lao động đồng ý. Đồng thời, thời gian làm thêm cũng phải nằm trong giới hạn pháp luật cho phép.
Số giờ làm thêm của người lao động được giới hạn như sau:
- Không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày. Trường hợp doanh nghiệp áp dụng thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;
- Không quá 40 giờ trong 01 tháng;
- Không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được phép làm thêm đến 300 giờ/năm.
- Đối với một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp đặc thù, doanh nghiệp có thể tổ chức cho người lao động làm thêm tối đa 300 giờ trong 01 năm.
Các trường hợp này bao gồm một số hoạt động sản xuất, gia công hàng dệt may, da giày, điện tử, chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu, cấp thoát nước; công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không đáp ứng đầy đủ, kịp thời và một số trường hợp công việc cấp bách, mang tính thời vụ hoặc phát sinh do các yếu tố khách quan.
Khi tổ chức làm thêm giờ thuộc trường hợp được làm tối đa 300 giờ/năm, người sử dụng lao động còn phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];