Người được bảo hiểm nhân thọ chết do thi hành án tử hình thì có được nhận tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm hay không?

Trần Thị Huyền Trân 21,979 lượt xem
09:38 | 08/08/2023
Tôi muốn hỏi bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm như thế nào? Bảo hiểm nhân thọ có thể áp dụng cho đối tượng nào? Cách xác định tuổi và đóng phí trong bảo hiểm nhân thọ như thế nào? Trường hợp người được bảo hiểm nhân thọ chết do thi hành án tử hình thì có được nhận tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm hay không? Mong nhận được giải đáp, xin cảm ơn.
Nội dung chính
  1. Thế nào là bảo hiểm nhân thọ? Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là gì?
  2. Thông báo tuổi và đóng phí trong bảo hiểm nhân thọ thực hiện như thế nào?
  3. Trường hợp người được bảo hiểm nhân thọ chết do thi hành án tử hình thì có được nhận tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm hay không?

Thế nào là bảo hiểm nhân thọ? Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là gì?

Theo khoản 12 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 định nghĩa về bảo hiểm nhân thọ như sau:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…
12. Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.”

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 bao gồm: tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người.

Theo khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định các đối tượng mà bên mua bảo hiểm được quyền mua bảo hiểm, bao gồm:

- Bản thân bên mua bảo hiểm;

- Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;

- Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;

- Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Thông báo tuổi và đóng phí trong bảo hiểm nhân thọ thực hiện như thế nào?

Theo quy định tại Điều 34 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 về việc thông báo tuổi trong bảo hiểm nhân thọ như sau:

- Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan. Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

+ Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng;

+ Giảm số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.

Quy định đối với việc đóng phí bảo hiểm nhân thọ được quy định tại Điều 35 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 như sau:

- Bên mua bảo hiểm có thể đóng phí bảo hiểm một lần hoặc nhiều lần theo thời hạn, phương thức thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

- Trong trường hợp bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm từ hai năm trở lên mà doanh nghiệp bảo hiểm đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều này thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

- Các bên có thể thoả thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm đã bị đơn phương đình chỉ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này trong thời hạn hai năm, kể từ ngày bị đình chỉ và bên mua bảo hiểm đã đóng số phí bảo hiểm còn thiếu.

Người được bảo hiểm nhân thọ chết do thi hành án tử hình thì có được nhận tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm hay không?

Người chết do thi hành án tử hình có được nhận tiền bảo hiểm không?

Trường hợp người được bảo hiểm nhân thọ chết do thi hành án tử hình thì có được nhận tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm hay không?

Các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm được quy định tại Điều 39 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 như sau:

- Doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

+ Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn hai năm, kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực;

+ Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;

+ Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.

- Trong trường hợp một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan; nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Như vậy, theo quy định trên, trường hợp người được bảo hiểm chết do thi hành án tử hình thuộc một các trường hợp không được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm. Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có trách nhiệm chi trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan; nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thị Huyền Trân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Pháp luật
Người nộp thuế cần chuẩn bị gì để chi phí y tế, giáo dục được giảm trừ khi tính thuế TNCN?

(Chinhphu.vn) - Từ ngày 01/7/2026, người nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có thể được giảm trừ một số khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của bản thân và người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Thế nào là tình trạng khẩn cấp theo Luật Tình trạng khẩn cấp 2025? Tình trạng khẩn cấp bao gồm những tình trạng nào?

Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội được cấp có thẩm quyền ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp tại một hay nhiều địa phương hoặc trên phạm vi cả nước khi có thảm họa hoặc nguy cơ xảy ra thảm họa do đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân hoặc có tình hình do đe dọa nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội