Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Đoàn Thanh Hiền 171 lượt xem
10:00 | 14/07/2026
Được nhận trợ cấp thôi việc trong trường hợp nào? Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?
Nội dung chính
  1. Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?
  2. Được nhận trợ cấp thôi việc trong trường hợp nào?
  3. Tính trợ cấp thôi việc theo lương cơ bản hay tổng thu nhập?
  4. Cách tính trợ cấp thôi việc được quy định như thế nào?

Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Được. Vì 2 khoản trợ cấp này được chi trả độc lập với nhau. Việc đã nhận trợ cấp thôi việc từ doanh nghiệp không ảnh hưởng đến quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp từ quỹ BHTN.

Căn cứ Điều 38 Luật Việc làm 2025, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ phải chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật, đã đóng BHTN đủ thời gian quy định và nộp hồ sơ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nghỉ việc.

Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Được nhận trợ cấp thôi việc trong trường hợp nào?

Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau đây sẽ được nhận trợ cấp thôi việc:

- Hết hạn hợp đồng lao động;

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

- Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định.

Tuy nhiên để được nhận trợ cấp thôi việc thì người lao động phải làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.

Tính trợ cấp thôi việc theo lương cơ bản hay tổng thu nhập?

Trợ cấp thôi việc được tính theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, không phải lương cơ bản tối thiểu cũng không phải tổng thu nhập thực nhận.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương dùng để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi nghỉ việc.

Điều này có nghĩa căn cứ tính không phải là lương cơ bản, cũng không phải toàn bộ tổng thu nhập thực nhận hàng tháng, mà là mức lương được ghi nhận cụ thể trong hợp đồng lao động. Khoản này thường bao gồm:

- Mức lương công việc/chức danh ghi trong hợp đồng

- Các khoản phụ cấp lương được thỏa thuận là một phần tiền lương

- Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể, trả thường xuyên theo hợp đồng

Ngược lại, các khoản như thưởng KPI, thưởng tháng 13, hoa hồng, hay phụ cấp xăng xe, điện thoại, cơm trưa, ... nếu không được ghi trong hợp đồng thì đều bị loại trừ.

Cách tính trợ cấp thôi việc được quy định như thế nào?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định về trợ cấp thôi việc như sau:

Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
...

Theo đó, việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động sẽ dựa trên nguyên tắc: Mỗi một năm làm việc người hưởng trợ cấp sẽ được nhận khoản tiền trợ cấp bằng một nửa tháng tiền lương tính hưởng trợ cấp thôi việc.

Như vậy, công thức tính trợ cấp thôi việc như sau:

Tiền trợ cấp thôi việc = ½ * Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc * Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc

Đoàn Thanh Hiền
Đoàn Thanh Hiền Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hợp đồng lao động Xem thêm

Lao Động Tiền Lương
Công ty cho nghỉ việc vì lý do nghỉ ốm quá lâu, có đúng luật?

Người lao động nghỉ ốm trong thời gian dài có bị công ty cho nghỉ việc hay không? Pháp luật quy định thế nào về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi người lao động điều trị bệnh, nghỉ hưởng chế độ ốm đau?

Lao Động Tiền Lương
Trợ cấp thôi việc lấy mức lương tháng nào để tính?

Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có thể được hưởng trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng đủ điều kiện. Vậy mức lương nào được dùng làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc và được xác định dựa trên tiền lương của những tháng nào?

Lao Động Tiền Lương
Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp ở điểm nào?

Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp ở điểm nào? Đây đều là những khoản hỗ trợ người lao động có thể được nhận khi chấm dứt việc làm nhưng điều kiện hưởng, đối tượng chi trả và cách tính có sự khác nhau. Vậy trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp khác nhau như thế nào?

Lao Động Tiền Lương
Có được thỏa thuận lương khác với mức ghi trong hợp đồng không?

Tiền lương là một trong những nội dung phải được thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng lao động. Vậy nếu mức lương thực tế hai bên thỏa thuận khác với mức lương ghi trong hợp đồng thì có được không, và người lao động cần lưu ý gì để bảo đảm quyền lợi?

Bài viết mới nhất