Người lao động nghỉ ngang có được tiếp tục tham gia BHXH ở công ty mới không?
Có. Người lao động nghỉ ngang vẫn có thể tiếp tục tham gia BHXH bắt buộc tại công ty mới nếu công việc mới thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc.
Cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng. Sau đó, khi làm việc tại công ty mới thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, người lao động tiếp tục đóng BHXH theo quy định.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, kể cả trường hợp hợp đồng được gọi bằng tên khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
Do đó, việc có được tiếp tục tham gia BHXH tại công ty mới hay không phụ thuộc vào công việc và hợp đồng lao động mới, không phụ thuộc vào việc người lao động đã nghỉ việc ở công ty cũ đúng quy định hay nghỉ ngang.

Người lao động nghỉ ngang có được tiếp tục tham gia BHXH ở công ty mới không?
Người lao động được xem là nghỉ ngang khi nào?
Hiện nay, theo Bộ luật Lao động 2019 thì không có quy cụ thể về nghỉ việc ngang. Tuy nhiên, ta có thể hiểu nghỉ ngang là cách gọi khác của trường hợp người lao động nghỉ trái pháp luật. Vậy khi nào người lao động nghỉ trái pháp luật?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động theo thời hạn quy định như sau:
- Làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn: báo trước ít nhất 45 ngày;
- Làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng - 36 tháng: báo trước ít nhất 30 ngày;
- Làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng: báo trước ít nhất 03 ngày;
- Đối với ngành, nghề, công việc đặc thù: thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Do đó, khi người lao động nghỉ ngang mà không thuộc 13 trường hợp được quy định tại Điều 34 Bộ luật Lao động 2019; hoặc vì một lý do nào đó mà nghỉ việc nhưng không tiến hành thông báo cho người sử dụng lao động biết trước hoặc có báo trước nhưng không đáp ứng đủ số ngày báo trước theo luật định thì sẽ thuộc những trường hợp chấm dứt hợp đồng trái luật.
Khi đó, trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ bị xem là nghỉ ngang.
Người lao động nghỉ ngang có phải bồi thường hay không?
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, nghĩa vụ của người lao động được quy định tại Điều 40 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
- Không được trợ cấp thôi việc;
- Phải bồi thường cho công ty một nửa tháng tiền lương của người lao động ghi trong hợp đồng lao động và một khoản tiền bồi thường tương ứng với số tiền lương của người lao động theo hợp đồng lao động trong những ngày người lao động không thực hiện nghĩa vụ báo trước;
- Hoàn trả cho công ty chi phí đào tạo theo quy định.
Chi phí đào tạo người lao động phải hoàn trả cho công ty bao gồm các khoản công ty chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy học, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, và các chi phí hỗ trợ cho người người lao động học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động trong thời gian đi học.
Nếu người lao động được gửi đi đào tạo tại nước ngoài thì chi phí đào tạo bao gồm cả chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt của người lao động trong thời gian đào tạo.
Như vậy, người lao động nghỉ ngang mà không thực hiện việc báo trước hoặc báo trễ so với thời hạn quy định phải bồi thường cho công ty.
Số tiền bồi thường bằng một nửa tháng tiền lương của người lao động ghi trong hợp đồng lao động và một khoản tiền bồi thường tương ứng với số tiền lương của người lao động theo hợp đồng lao động trong những ngày người lao động không thực hiện nghĩa vụ báo trước.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];