Người lao động làm part time có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?
Có. Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định người lao động làm part time vẫn bị tính thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ công việc part time.
Tuy nhiên, nếu người lao động làm part time thuộc trường hợp tổng mức thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh nhưng chưa đến mức phải nộp thuế thu nhập cá nhân thì người lao động làm part time sẽ có thể làm cam kết và sẽ không bị khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Cụ thể:
Thu nhập chịu thuế
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
+ Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ
(khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025)
Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế
- Khấu trừ thuế
+ Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác
Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.
Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.
(điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC)
Do đó, người lao động làm part time sẽ phải khấu trừ thuế nếu thuộc trường hợp là người lao động không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng có tổng mức thu nhập từ 2.000.000 đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập;
Đối với trường hợp người lao động chỉ có duy nhất thu nhập thuộc thu nhập chịu thuế và là đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Người lao động làm part time có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không? (Hình từ Internet)
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú là khi nào?
Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công đối với cá nhân cư trú là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Thu nhập tính thuế có phải tiền lương thực nhận không?
Không phải. thu nhập tính thuế không phải là tiền lương thực nhận, mà là con số cơ sở dùng để xác định chính xác số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
Thu nhập tính thuế được xác định bằng cách lấy tổng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản được giảm trừ như bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh (15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc) và các khoản đóng góp khác (nếu có). Đây là con số để áp biểu thuế lũy tiến.
(khoản 2 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025)
Trong khi đó, tiền lương thực nhận là số tiền người lao động thực sự nhận được sau khi đã trừ cả bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân từ mức lương ban đầu.
Vì vậy, thu nhập tính thuế luôn khác và thường cao hơn thu nhập thực nhận, do chưa bao gồm phần thuế phải nộp. Còn thu nhập thực nhận mới là khoản tiền cuối cùng người lao động được sử dụng.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];