Lao động thất nghiệp quý 3 giảm so với quý 2 năm 2025, cụ thể ra sao?
Căn cứ Mục 5 Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý 3 và 9 tháng năm 2025 quy định như sau:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý 3 năm 2025 khoảng 1,06 triệu người, giảm 6,35 nghìn người so với quý trước và tăng 2,54 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý 3 năm 2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị tiếp tục duy trì dưới mức 3%.
Số doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường và tình hình xuất nhập khẩu khởi sắc góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.

Tính chung 9 tháng năm 2025, cả nước có khoảng 1,05 triệu người thất nghiệp trong độ tuổi lao động, giảm 8,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2025 là 2,22%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Như vậy, tình hình thất nghiệp 9 tháng năm nay ở Việt Nam cải thiện hơn so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên vẫn dao động quanh mức 2,2% như thời kỳ trước dịch Covid-19 xuất hiện.
>> Xem chi tiết thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý 3 và 9 tháng năm 2025: TẠI ĐÂY
>> Tải miễn phí Mẫu Danh sách đề nghị chi trả hỗ trợ học nghề cho người tham gia bảo hiểm thất nghiệp: TẠI ĐÂY
>> TẠI ĐÂY: Mẫu giấy đề nghị hỗ trợ học nghề dành cho người lao động.
>> TẠI ĐÂY: PGNHS 215 Mẫu giải quyết hồ sơ chi trả hỗ trợ học nghề cho người lao động.
>> Tải về: File excel tính trợ cấp thất nghiệp 2025 và 2026

Lao động thất nghiệp quý 3 giảm so với quý 2 năm 2025, cụ thể ra sao? (Hình từ Internet)
Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp cần đáp ứng điều kiện gì để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 38 Luật Việc làm 2025 quy định về điều kiện hưởng. Theo đó, người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp cần đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
- Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được định nghĩa như thế nào?
Căn cứ theo Điều 43 Luật Việc làm 2025 quy định:
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước; được hạch toán, kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật về kế toán và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Định kỳ 03 năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, hoạt động đầu tư quỹ và báo cáo kết quả với Quốc hội. Theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được kiểm toán đột xuất.
Như vậy, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được định nghĩa là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước; được hạch toán, kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật về kế toán và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Ngoài ra, định kỳ 03 năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, hoạt động đầu tư quỹ và báo cáo kết quả với Quốc hội. Theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được kiểm toán đột xuất.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];