Công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào đâu?

21:00 | 01/06/2026
Theo quy định, công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào đâu?
Nội dung chính
  1. Công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào đâu?
  2. Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được hiểu như thế nào?
  3. Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung là bao nhiêu?

Công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào đâu?

Phương thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung như sau:

- Các đối tượng quy định tại Điều 4 Nghị định 85/2026/NĐ-CP được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.

+ Việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung. Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.

+ Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.

- Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.

- Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 05 năm.

- Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp này khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 85/2026/NĐ-CP hoặc khi thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Bị tử vong.

+ Đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.

+ Có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.

+ Người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc có giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.

Như vậy, công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính. Đồng thời, công ty thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.

(khoản 2 Điều 5 Nghị định 85/2026/NĐ-CP)

Công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào đâu?

Công ty xây dựng văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung giữa người lao động và công ty căn cứ vào đâu? (Hình từ Internet)

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được hiểu như thế nào?

Điều 10 Nghị định 85/2026/NĐ-CP quy định Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung là quỹ tài chính để thực hiện chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung; được hạch toán, kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm toán theo quy định của pháp luật về kế toán và kiểm toán, sau đây gọi là quỹ hưu trí.

Cụ thể:

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung là quỹ tài chính để thực hiện chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung; được hạch toán, kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm toán theo quy định của pháp luật về kế toán và kiểm toán, sau đây gọi là quỹ hưu trí.

Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí theo dõi, quản lý và hạch toán độc lập, tách bạch với tài sản của doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí.

(khoản 1 Điều 10 Nghị định 85/2026/NĐ-CP)

Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung là bao nhiêu?

Điều 5 Nghị định 85/2026/NĐ-CP quy định hiện nay mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung không có quy định một tỷ lệ cố định như BHXH bắt buộc mà được quy định theo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, linh hoạt.

Cụ thể:

Phương thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung

- Các đối tượng quy định tại Điều 4 Nghị định 85/2026/NĐ-CP được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.

+ Việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung. Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.

+ Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.

(điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 85/2026/NĐ-CP)

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thành Đạt Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bảo hiểm cho người lao động Xem thêm

Bài viết mới nhất

Lao Động Tiền Lương
Cán bộ công chức đang công tác tại xã loại I mà sắp tới được công nhận là xã đặc biệt khó khăn thì có được hưởng chế độ 10 tháng lương sau khi xã đó được công nhận không?

Đang công tác tại xã loại I mà sắp tới được công nhận là xã đặc biệt khó khăn thì cán bộ công chức đang công tác ở xã có được hưởng chế độ 10 tháng lương khi được công nhận xã đặc biệt khó khăn hay không?