Công ty không hoàn tất thủ tục xác nhận thời gian đóng BHXH, BHTN sau khi chấm dứt HĐLĐ bị phạt bao nhiêu?
Theo Điều 18 Nghị định 283/2026/NĐ-CP phạt tiền đối với người sử dụng lao động hành vi không hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
- Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Đồng thời, buộc người sử dụng lao động hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động cho người lao động đối với hành vi không hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định.
Lưu ý: Mức phạt trên áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Nếu người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt gấp 2 lần cá nhân.
Do đó, mức phạt nếu công ty không hoàn tất thủ tục xác nhận thời gian đóng BHXH, BHTN sau khi chấm dứt hợp đồng lao động từ 2.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Công ty không hoàn tất thủ tục xác nhận thời gian đóng BHXH, BHTN sau khi chấm dứt HĐLĐ bị phạt bao nhiêu? (Hình từ Internet)
Không được hưởng trợ cấp thất nghiệp dù đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong trường hợp nào?
Theo quy định tại Điều 38 Luật Việc làm 2025 người lao động không được hưởng trợ cấp thất nghiệp dù đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong 05 trường hợp sau đây:
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
- Nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.
- Không đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian theo quy định:
+ Đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
+ Đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng.
- Không nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong vòng 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
- Các trường hợp khác: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực
+ Đi học tập có thời hạn trên 12 tháng
+ Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
+ Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù
+ Ra nước ngoài định cư hoặc chết.
Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được xác định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 15 Nghị định 374/2025/NĐ-CP tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo tháng dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp đến ngày đó của tháng sau trừ 01 ngày, trường hợp tháng sau không có ngày tương ứng thì ngày kết thúc của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày cuối cùng của tháng đó.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];