Bản án 03/2021/HS-ST ngày 26/02/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 03/2021/HS-ST NGÀY 26/02/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 05-01-1975 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 3/17 Đ, T, H, Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân:

Bản án số 95/2011/HSST ngày 15-12-2011 của Tòa án nhân dân quận H; Bản án số 28/2012/HSPT ngày 05-3-2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Ngọc T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản án số 97/2012/HSST ngày 27-6-2012 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Ngọc T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 95/2011/HSST ngày 15-12-2011 của Tòa án nhân dân quận H, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 30 tháng tù. (đã được xóa án tích).

- Bản án số 74/2015/HSST ngày 22-7-2015 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-11-2020 chuyển tạm giam ngày 27-11-2020;

có mặt.

Bị hại: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Số 193 M, tổ 15, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Vũ Văn Len. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23-11-2020, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R5-5664 đến quán Mộc Trà ở số 193 M, tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng uống cafe. Đến khoảng 17giờ thanh toán tiền, trong khi trả tiền, T thấy bên trong túi đeo của chị Hà để ở gầm quầy có nhiều tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi đi khỏi quán một đoạn, T đeo khẩu trang rồi quay lại cửa quán, thấy không có ai trông coi, T dựng xe, đi vào quầy thanh toán lấy chiếc túi đeo để ở ngăn gầm quầy bên trong có 4.406.000 đồng rồi đi ra. Ngay lúc đó, anh Nguyễn Văn Tùng (chồng chị Hà) đi về phát hiện sự việc, T liền vứt chiếc túi lại bỏ chạy ra ngoài thì bị anh Tùng cùng lực lượng Công an phường A đang làm nhiệm vụ bắt giữ.

Kết luận định giá tài sản số 24/KLĐG ngày 21/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự quận D, kết luận: Chiếc túi đeo dây chéo màu đen, có giá trị là 40.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 4.406.000 đồng và chiếc túi đeo dây chéo màu đen cho chị Trần Thị Thu H; 01 xe môtô biển kiểm soát 16R5- 5664, kết quả điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T (là bố đẻ của T), ông Thành cho T mượn để đi lại nhưng không biết T sử dụng để đi trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Thành.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Nguyễn Ngọc T phải bồi thường về dân sự.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSDK ngày 08 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận D truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn trình bày đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T với mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong nên không phải xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 17 giờ, ngày 23-11-2020, tại quán cafe Mộc Trà, ở số 193 M, tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 túi đeo màu đen của chị Trần Thị Thu H (theo Kết luận định giá là 40.000 đồng) bên trong có 4.406.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 4.446.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận D truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại vì tài sản đã được thu hồi ngay trả cho bị hại; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Thành được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất năm 1984 vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; có mẹ đẻ là bà Trần Thị Tình được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1984 vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất vụ án và hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị tòa án xét xử và phải chịu hình phạt tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học nghiêm khắc để tu dưỡng cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, tuy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng vẫn cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

[6] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Vì điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong từ giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử xét không phải xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-11-2020.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Trần Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2021/HS-ST ngày 26/02/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:03/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Dương Kinh - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về