Tai nạn lao động do lỗi của người lao động thì công ty có phải bồi thường không?

Đoàn Thanh Hiền 977 lượt xem
05:45 | 11/05/2026
Theo quy định pháp luật tai nạn lao động do lỗi của người lao động thì công ty có phải bồi thường không?
Nội dung chính
  1. Tai nạn lao động do lỗi của người lao động thì công ty có phải bồi thường không?
  2. Bị tai nạn lao động nhưng không được công ty đóng bảo hiểm, người lao động được hỗ trợ thế nào?
  3. Bị tai nạn lao động thì được Quỹ TNLĐ-BNN chi trả những khoản nào?

Tai nạn lao động do lỗi của người lao động thì công ty có phải bồi thường không?

Không. Nếu tai nạn lao động xảy ra hoàn toàn do lỗi của chính người lao động thì người sử dụng lao động không phải bồi thường mà chỉ phải trả trợ cấp. Mức trợ cấp tối thiểu bằng 40% mức bồi thường quy định, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Căn cứ khoản 5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 dù tai nạn do lỗi của người lao động gây ra thì công ty vẫn phải trợ cấp cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường mà đáng lẽ họ được hưởng nếu tai nạn không do lỗi của mình.

Khoản tiền trợ cấp cụ thể căn cứ trên tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của người lao động theo quy định tại Điều 4 Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH, cụ thể như sau:

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 80%

+ Ít nhất 0,6 tháng lương khi bị SGKNLĐ từ 5% - 10%

+ Nếu bị SGKNLĐ từ 11% - 80% thì tính theo công thức:

Ttc = Tbt x 0,4

Trong đó:

- Ttc: Mức trợ cấp khi bị SGKNLĐ từ trên 10% trở lên

- Tbt: Mức bồi thường cho người bị SGKNLĐ từ trên 10% trở lên

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên: Ít nhất 12 tháng lương

Căn cứ khoản 2 Điều 7 Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH tiền trợ cấp tai nạn lao động phải được thanh toán một lần cho người lao động hoặc thân nhân của họ, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày người sử dụng lao động ra quyết định trợ cấp.

Tai nạn lao động do lỗi của người lao động thì công ty có phải bồi thường không?

Bị tai nạn lao động nhưng không được công ty đóng bảo hiểm, người lao động được hỗ trợ thế nào?

Bị tai nạn lao động nhưng không được công ty đóng bảo hiểm, người lao động vẫn được công ty thanh toán chi phí điều trị, trả lương trong thời gian nghỉ điều trị, bồi thường hoặc trợ cấp và phải được công ty trả thêm khoản tiền tương ứng với chế độ TNLĐ mà đáng lẽ cơ quan BHXH sẽ thanh toán nếu đã đóng bảo hiểm đầy đủ.

Theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, khi xảy ra tai nạn lao động, công ty có trách nhiệm:

- Thanh toán chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động;

- Trả đủ tiền lương trong thời gian người lao động nghỉ điều trị, phục hồi chức năng lao động;

- Bồi thường nếu tai nạn không do lỗi của người lao động hoặc trợ cấp nếu tai nạn do lỗi của chính người lao động;

- Giới thiệu người lao động đi giám định y khoa nếu đủ điều kiện.

Ngoài ra tại khoản 4 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định: Nếu công ty chưa đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc cho người lao động thì ngoài các khoản chi trả nêu trên, công ty còn phải thanh toán thêm khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động mà lẽ ra cơ quan BHXH sẽ chi trả nếu người lao động đã được đóng bảo hiểm đầy đủ.

Điều này đồng nghĩa với việc người lao động không bị mất quyền lợi chỉ vì công ty không tham gia bảo hiểm bắt buộc. Phần trách nhiệm đáng lẽ do quỹ BHXH chi trả sẽ chuyển sang cho doanh nghiệp trực tiếp thanh toán cho người lao động.

Bị tai nạn lao động thì được Quỹ TNLĐ-BNN chi trả những khoản nào?

Trường hợp đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động, tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động mà người lao động được hưởng các chế độ do Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thuộc Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả như sau:

1. Trợ cấp một lần (suy giảm từ 05% - 30%)

- Suy giảm 05% hưởng 05 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 01% thì hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;

- Hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội: Từ 01 năm trở xuống được 0,5 tháng, cứ thêm mỗi năm được thêm 0,3 tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Căn cứ quy định tại Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

2. Trợ cấp hằng tháng (suy giảm từ 31% trở lên)

- Người lao động được nhận trợ cấp hằng tháng khi suy giảm 31% hưởng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 01% thì hưởng thêm 02% mức lương cơ sở;

- Hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội: Từ 01 năm trở xuống được 0,5%, cứ thêm mỗi năm được thêm 0,3% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Căn cứ quy định tại Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

3. Tiền mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình

Người lao động bị tai nạn lao động mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật như: Tay giả, máng nhựa tay, chân giả, máng nhựa chân; nẹp đùi, nẹp cẳng chân, áo chỉnh hình,...

Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

4. Trợ cấp phục vụ (suy giảm từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt, liệt hai chi hoặc bị tâm thần):

Mức trợ cấp/tháng = Mức lương cơ sở = 1,8 triệu đồng/tháng.

Căn cứ quy định tại Điều 52 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

5. Trợ cấp một lần khi chết

Mức trợ cấp một lần = 36 x Mức lương cơ sở

Căn cứ quy định tại Điều 53 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

6. Tiền dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau điều trị:

Mức trợ cấp mỗi ngày = 30% x Mức lương cơ sở

Trong đó, số ngày nghỉ dưỡng sức:

- Tối đa 10 ngày nếu suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên;

- Tối đa 07 ngày nếu suy giảm khả năng lao động từ 31% - 50%;

- Tối đa 05 ngày nếu suy giảm khả năng lao động từ 15% - 30%.

Căn cứ quy định tại Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

7. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động khi trở lại làm việc:

- Mức hỗ trợ tối đa là 50% mức học phí, nhưng không quá 15 lần mức lương cơ sở;

- Số lần hỗ trợ tối đa đối với mỗi người lao động là hai lần và chỉ được nhận hỗ trợ 01 lần/năm.

Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015

Lưu ý: Mức hỗ trợ này áp dụng cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên, được sắp xếp công việc mới phù hợp với sức khỏe, nguyện vọng nhưng cần phải đào tạo nghề để chuyển đổi (theo quy định tại Điều 12 Nghị định 88/2020/NĐ-CP).

Đoàn Thanh Hiền
Đoàn Thanh Hiền Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bảo hiểm cho người lao động Xem thêm

Bài viết mới nhất