Người lao động có trách nhiệm gì trong việc quản lý bệnh nghề nghiệp?
Theo quy định tại Điều 17 Thông tư 56/2025/TT-BYT như sau:
Trách nhiệm của người lao động
1. Khai báo thông tin trung thực về tiền sử bệnh tật, tiếp xúc nghề nghiệp trong quá trình khám sức khỏe.
2. Tham gia khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc, các đợt khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động tổ chức.
3. Thực hiện đầy đủ hướng dẫn, chỉ định khám và điều trị của người hành nghề sau mỗi lần khám.
4. Lưu giữ hồ sơ quản lý sức khỏe trong các trường hợp thôi việc, nghỉ việc, nghỉ chế độ (Hồ sơ bệnh nghề nghiệp, báo cáo từng trường hợp người lao động mắc bệnh nghề nghiệp, các giấy tờ liên quan đến khám, điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) để làm cơ sở cho việc khám, chẩn đoán, giám định bệnh nghề nghiệp nếu mắc sau thời gian ngừng tiếp xúc với yếu tố có hại; chuyển hồ sơ quản lý sức khỏe cho cơ quan mới trong trường hợp chuyển cơ quan công tác.
Theo đó, người lao động có trách nhiệm:
- Khai báo thông tin trung thực về tiền sử bệnh tật, tiếp xúc nghề nghiệp trong quá trình khám sức khỏe.
- Tham gia khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc, các đợt khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động tổ chức.
- Thực hiện đầy đủ hướng dẫn, chỉ định khám và điều trị của người hành nghề sau mỗi lần khám.
- Lưu giữ hồ sơ quản lý sức khỏe trong các trường hợp thôi việc, nghỉ việc, nghỉ chế độ (Hồ sơ bệnh nghề nghiệp, báo cáo từng trường hợp người lao động mắc bệnh nghề nghiệp, các giấy tờ liên quan đến khám, điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) để làm cơ sở cho việc khám, chẩn đoán, giám định bệnh nghề nghiệp nếu mắc sau thời gian ngừng tiếp xúc với yếu tố có hại; chuyển hồ sơ quản lý sức khỏe cho cơ quan mới trong trường hợp chuyển cơ quan công tác.

Người lao động có trách nhiệm gì trong việc quản lý bệnh nghề nghiệp?
Việc điều tra bệnh nghề nghiệp được thực hiện trong trường hợp nào?
Theo quy định tại Điều 11 Thông tư 56/2025/TT-BYT như sau:
Điều tra bệnh nghề nghiệp
1. Việc điều tra bệnh nghề nghiệp được thực hiện thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có nhiều người bị ốm, mắc bệnh trong cùng một thời điểm tại một cơ sở lao động;
b) Kết quả quan trắc yếu tố có hại trong môi trường lao động (sau đây gọi chung là quan trắc) vượt giới hạn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép nhưng không có trường hợp người lao động được phát hiện bệnh nghề nghiệp hoặc cơ sở lao động không thực hiện quan trắc hoặc quan trắc không đủ các yếu tố có hại trong môi trường lao động hoặc kết quả quan trắc không vượt giới hạn cho phép nhưng có người lao động nghi ngờ mắc bệnh nghề nghiệp hoặc không khám phát hiện bệnh nghề nghiệp;
c) Điều tra lại bệnh nghề nghiệp hoặc điều tra bệnh nghề nghiệp theo yêu cầu của cơ quan Bảo hiểm xã hội;
d) Điều tra bệnh nghề nghiệp theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
d) Điều tra bệnh nghề nghiệp có liên quan đến bản thân mà chưa được giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động theo yêu cầu của người lao động.
2. Thành phần đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp:
a) Thành phần đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp cấp tỉnh do người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về y tế cấp tỉnh quyết định thành lập, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này, bao gồm: Lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước về y tế cấp tỉnh làm trưởng đoàn và đại diện cơ quan quản lý nhà nước về nội vụ cấp tỉnh; Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc cấp tỉnh; cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh; bác sĩ được khám bệnh, chữa bệnh bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;
...
Theo đó, việc điều tra bệnh nghề nghiệp được thực hiện thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có nhiều người bị ốm, mắc bệnh trong cùng một thời điểm tại một cơ sở lao động;
- Kết quả quan trắc yếu tố có hại trong môi trường lao động (sau đây gọi chung là quan trắc) vượt giới hạn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép nhưng không có trường hợp người lao động được phát hiện bệnh nghề nghiệp hoặc cơ sở lao động không thực hiện quan trắc hoặc quan trắc không đủ các yếu tố có hại trong môi trường lao động hoặc kết quả quan trắc không vượt giới hạn cho phép nhưng có người lao động nghi ngờ mắc bệnh nghề nghiệp hoặc không khám phát hiện bệnh nghề nghiệp;
- Điều tra lại bệnh nghề nghiệp hoặc điều tra bệnh nghề nghiệp theo yêu cầu của cơ quan Bảo hiểm xã hội;
- Điều tra bệnh nghề nghiệp theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
- Điều tra bệnh nghề nghiệp có liên quan đến bản thân mà chưa được giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động theo yêu cầu của người lao động.
Điều tra bệnh nghề nghiệp trong thời hạn bao lâu?
Theo quy định tại Điều 12 Thông tư 56/2025/TT-BYT như sau:
Thời hạn điều tra bệnh nghề nghiệp
1. Thời hạn điều tra: Không quá 30 ngày, kể từ ngày thành lập Đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp có hiệu lực thi hành.
2. Trường hợp điều tra bệnh nghề nghiệp phức tạp cần gia hạn điều tra, thì trước khi hết hạn điều tra 02 ngày làm việc, Trưởng đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp phải báo cáo và xin phép người ra quyết định thành lập đoàn điều tra. Thời hạn gia hạn điều tra không vượt quá 10 ngày làm việc.
Theo đó, điều tra bệnh nghề nghiệp trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày thành lập Đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp có hiệu lực thi hành.
Trong trường hợp điều tra bệnh nghề nghiệp phức tạp cần gia hạn điều tra, thì trước khi hết hạn điều tra 02 ngày làm việc, Trưởng đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp phải báo cáo và xin phép người ra quyết định thành lập đoàn điều tra. Thời hạn gia hạn điều tra không vượt quá 10 ngày làm việc.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];