Doanh nghiệp tổ chức làm thêm giờ thì có bắt buộc phải thông báo cho Sở Nội vụ không? Mức phạt nếu không thông báo từ 10/9/2026 là bao nhiêu?
Theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 người sử dụng lao động có thể sử dụng người lao động làm thêm giờ trong trường hợp được sự đồng ý của người lao động nhưng phải bảo đảm số giờ làm thêm không quá 200 giờ trong 01 năm.
Trường hợp các ngành nghề công việc đặc thù theo quy định thì người sử dụng lao động có thể sử dụng người lao động làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm. Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 150/2025/NĐ-CP thì cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động là Sở Nội vụ.
Do đó, đối với việc làm thêm giờ không quá 200 giờ trong 01 năm thì người sử dụng lao động không cần phải thông báo cho Sở Nội vụ. Tuy nhiên, trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm thêm giờ trong các ngành nghề đặc thù theo quy định trên thì phải thông báo về việc tổ chức làm thêm giờ cho Sở Nội vụ.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 283/2026/NĐ-CP nếu doanh nghiệp không thông báo bằng văn bản cho Sở Nội vụ nơi tổ chức làm thêm giờ và nơi đặt trụ sở chính về việc tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm thì sẽ bị phạt từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Nếu người sử dụng lao động là cá nhân thì sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Doanh nghiệp tổ chức làm thêm giờ thì có bắt buộc phải thông báo cho Sở Nội vụ không? Mức phạt nếu không thông báo từ 10/9/2026 là bao nhiêu? (Hình từ Internet)
Thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ có miễn thuế TNCN không?
Theo Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế TNCN đối với tiền lương tiền công làm việc ban đêm và làm thêm giờ tại nơi làm việc, nếu phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật lao động. Tuy nhiên, phần tiền lương tiền công làm việc ban đêm và làm thêm giờ vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Đồng thời, tại Điều 69 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định Nghị định Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Đối với cá nhân cư trú việc thì tiền làm thêm giờ, làm ban đêm vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế từ ngày 01/01/2026.
Người lao động làm thêm giờ được trả lương như thế nào?
Theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 về tiền lương làm thêm giờ như sau:
- Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
+ Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
+ Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
+ Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
- Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
- Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];