Quyết định giám đốc thẩm 31/2007/DS-GĐT ngày 13/09/2007 về vụ án ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 31/2007/DS-GĐT NGÀY 13/09/2007 VỀ VỤ ÁN LY HÔN VÀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN

Ngày 13 tháng 9 năm 2007, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự ly hôn và chia tài sản khi ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc Bích sinh năm 1959; trú tại tổ 1, khu 4A, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hải sinh năm 1959; trú tại tổ 1, khu 4A, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Hồng Nhung sinh năm 1980; trú tại tổ 1, khu 4A, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23-02-2005 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lê Ngọc Bích trình bày như sau:

Ông và bà Nguyễn Thị Hải sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1998, nhưng không đăng ký kết hôn. Từ năm 2003 phát sinh mâu thuẫn, nên ông yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ hôn nhân với bà Hải. Về tài sản: ông yêu cầu Tòa án giải quyết chia khối tài sản chung giữa ông và bà Hải gồm số tiền bồi thường giải phóng mặt bằng của thửa đất số 31 tờ bản đồ số 54 phường Bãi Cháy lập năm 1998 và giá trị ngôi nhà được xây dựng trên thửa đất số 5 tờ bản đồ số 54 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất số 5 là của riêng ông, do ông mua của vợ chồng ông Phạm Văn Thanh và bà Đoàn Thị Kha từ năm 1991.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Hải trình bày như sau: Bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Bích là vợ chồng. Về tài sản: Lúc đầu bà thừa nhận năm 1991 ông Bích đã mua một mảnh đất tại tổ 1, khu 4A, phường Bãi Cháy, thuộc thửa số 5 tờ bản đồ địa chính số 54 lập năm 1998 của Ủy ban nhân dân phường Bãi Cháy của ông Phạm Văn Thanh và bà Đoàn Thị Kha. Trong quá trình chung sống với ông Bích, bà đã nhiều lần trả nợ cho ông Bích nên ông Bích đã gán mảnh đất này cho bà. Ngày 30-9-1998, ông Bích đã yêu cầu vợ chồng ông Thanh, bà Kha viết giấy “Biên nhận nhượng vườn” cho bà gộp cả diện tích bà mua riêng của ông Thanh, bà Kha năm 1998. Sau đó, bà Hải lại khai rằng thửa đất số 5 là tài sản riêng của bà, do bà mua của vợ chồng ông Phạm Văn Thanh và bà Đoàn Thị Kha từ năm 1998, còn ngôi nhà cùng các công trình xây dựng năm 2002 trên thửa đất này được xây bằng tiền riêng của bà, nên không phải là tài sản chung của bà và ông Bích.

Đối với thửa đất số 31 tờ bản đồ số 54 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, bà Hải khai rằng: khoảng đầu năm 1998 bà và ông Bích mua của ông Vi Văn Thơ một thửa đất, sau đó (cùng năm 1998) phường Bãi Cháy lập bản đồ địa chính thì ông Bích và bà đã chia tách thửa đất này thành 2 thửa là số 29 và 31. Thửa số 29 do ông Bích đứng tên, ông Bích đã bán cho bà Mai Thị Lệ năm 1998, còn thửa số 31 do bà đứng tên và đã cho con gái là Hoàng Thị Hồng Nhung từ năm 2002. Thửa số 31 và tài sản trên thửa đất này không phải là tài sản chung của bà và ông Bích mà là tài sản riêng của bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Thị Hồng Nhung trình bày như sau:

Thửa đất số 31 tờ bản đồ số 54 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là do mẹ chị (là bà Hải) cho chị từ năm 2002, hàng năm chị là người nộp thuế, kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, nay thửa đất được đền bù giải phóng mặt bằng thì số tiền bồi thường là của riêng chị.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 39/2005/DSST ngày 14-10-2005, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh quyết định:

“Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc Bích.

Áp dụng khoản 1 Điều 11, khoản 3 Điều 17, Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình:

Tuyên bố: không công nhận quan hệ giữa ông Lê Ngọc Bích và bà Nguyễn Thị Hải là vợ chồng.

Giao cho ông Bích sở hữu ngôi nhà 1 tầng mái bằng, diện tích 60,35m2 kèm theo các công trình phụ tại phần còn lại của thửa đất số 5 tờ bản đồ địa chính số 54 phường Bãi Cháy, ở tổ 1, khu 4A, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long. Tạm giao cho ông Bích sử dụng phần còn lại của thửa đất số 5 tờ bản đồ địa chính số 54 phường Bãi Cháy, ở tổ 1, khu 4A, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, có diện tích 1.037,38m2; có ranh giới như sau: Nam giáp đường 18, Tây giáp vườn nhà ông bà Phạm Văn Thanh, Đoàn Thị Kha và ông bà Vi Văn Thơ, Đoàn Thị Nháy, Bắc giáp đường dầu cũ, Đông giáp nhà ông bà Phạm Văn Kỳ, Phan Thị Bích Nguyệt và nhà ông Lê Thế Thắng. Ông Bích có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được tạm giao nói trên.

Giao cho ông Bích được sở hữu số tiền 140.303.603đ trong số tiền đền bù cho thửa đất số 31, tờ bản đồ số 54, phường Bãi Cháy, hiện do Ban quản lý cầu Bãi Cháy quản lý.

Giao cho bà Hải được sở hữu số tiền 332.723.603đ trong số tiền đền bù thửa đất số 31, tờ bản đồ số 54, phường Bãi Cháy, hiện Ban quản lý dự án cầu Bãi Cháy quản lý.

Tạm giữ số tiền 473.027.206đ là tiền đền bù cho thửa đất số 31 tờ bản đồ số 54, phường Bãi Cháy, hiện do Ban quản lý dự án cầu Bãi Cháy quản lý để đảm bảo thi hành án”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17-10-2005, bà Hải có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 24-10-2005, ông Bích có đơn kháng cáo không đồng ý trả cho bà Hải 60.000.000đ tiền công trông nom tôn tạo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 37/2005/HNGĐ-PT ngày 23-12-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Hải có đơn (không đề ngày, tháng, năm) khiếu nại bản án sơ thẩm và phúc thẩm.

Tại Quyết định số 76/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 23-8-2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 24/2007/DS-GĐT ngày 29-01-2007, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

“- Không chấp nhận kháng nghị số 76/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 23-8-2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm số 37/2005/DSPT ngày 23-12-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về vụ án ly hôn và chia tài sản giữa nguyên đơn là ông Lê Ngọc Bích và bị đơn là bà Nguyễn Thị Hải”.

Tại Quyết định số 73/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 11-7-2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với Quyết định giám đốc thẩm số 24/2007/DS-GĐT ngày 29-01-2007 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Quyết định giám đốc thẩm nêu trên và bản án phúc thẩm số 37/2005/HNGĐ-PT ngày 23-12-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm lại theo thủ tục chung, với lý do:

“...Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm quyết định không công nhận quan hệ giữa ông Lê Ngọc Bích và bà Nguyễn Thị Hải là quan hệ vợ chồng là đúng. Riêng phần chia tài sản (nhà đất) hai bên còn tranh chấp. Ông Bích yêu cầu xác định thửa đất số 5 là của riêng ông còn căn nhà mái bằng trên thửa đất số 5 và thửa đất số 31 là tài sản chung giữa ông và bà Hải. Về phía bà Hải cho rằng nhà, đất tại thửa số 5 và thửa đất số 31 là của riêng bà.

Đối với thửa đất số 31: đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 31 trên bản đồ địa chính số 54 năm 1998 mang tên bà Nguyễn Thị Hải.

Ông Bích cho rằng năm 1998 ông Bích và bà Hải mua chung thửa đất của vợ chồng ông Tắc, bà Minh có ông Phạm Văn Nên là khu trưởng xác nhận và có giấy tờ mua bán. Bà Hải khai nguồn gốc thửa đất này là của ông Vi Văn Thơ, bà và ông Bích mua chung vào năm 1998, sau đó chia tách thành thửa số 29 và thửa số 31; bà đứng tên thửa số 31, ông Bích đứng tên thửa số 29. Thửa 29 ông Bích đã bán cho bà Lệ, thửa số 31 là của riêng bà. Nhưng tại “giấy nhượng vườn” (BL54) ghi ngày 08-4-1998 nội dung vợ chồng ông Tắc nhượng cho ông Bích, bà Hải mảnh vườn tại tổ 1 khu 4A phường Bãi Cháy nhưng chỉ có chữ ký của ông Bích và vợ chồng ông Tắc, không có chữ ký của bà Hải, không có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và bà Hải cũng không thừa nhận. Tại BL số 365C ông Thơ lại thừa nhận năm 1998 có bán cho ông Bích, bà Hải một thửa đất với giá 10 triệu đồng và thời điểm đó chưa có diện tích cụ thể. Sau khi mua bán xong ông Bích và bà Hải thỏa thuận chia nhau, phần ông Bích thì ông Bích đã nhượng lại cho bà Mai Thị Lệ hiện nay thửa đất đó mang số 29, thửa đất còn lại của bà Hải mang số 31 thì một mình bà Hải đã cho con là Hoàng Thị Hồng Nhung.

Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới và giao nhận diện tích của phường Bãi Cháy lập tháng 12-1998: Ông Bích đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 29 và bà Hải đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 31; ông Bích ký tên chủ sử dụng thửa đất 29 và bà Hải ký chủ sử dụng đất tiếp giáp thửa 29 (BL185); bà Hải ký tên chủ thửa đất số 31 và ông Bích ký chủ sử dụng đất tiếp giáp thửa 31 (BL186), biên bản có xác nhận của tổ dân phố và chính quyền địa phương. Thửa số 29 ông Bích đã bán cho bà Mai Thị Lệ, tại “giấy nhượng bán đất vườn” lập ngày 28-12-1998 có nội dung ông Bích bán thửa đất cho bà Lệ, giấy nhượng bán chỉ có ông Bích ký bên bán, bà Lệ ký bên mua. Ông Bích và bà Lệ khai bà Hải cùng ông Bích bán thửa đất 29 cho bà Lệ và bà Hải là người nhận tiền bán đất. Nhưng ông Bích và bà Lệ không xuất trình được chứng cứ chứng minh bà Hải có tham gia bán thửa 29 cho bà Lệ và có nhận tiền.

Như vậy, có nhiều căn cứ cho thấy thửa đất số 31 là của riêng bà Hải; án sơ thẩm và phúc thẩm chỉ căn cứ vào các lời khai của ông Tắc, ông Bích và bà Lệ và căn cứ vào giấy nhượng bán vườn viết tay chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền giữa ông Tắc và ông Bích để kết luận thửa đất số 31 là tài sản chung của ông Bích và bà Hải là không đúng.

Đối với thửa đất số 5: Trên bản đồ địa chính số 54 và trên biên bản xác định ranh giới, mốc giới lập năm 1998, thửa đất số 5 mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị Hải với diện tích 2.571,3m2.

Ông Bích khai thửa số 5 là của riêng ông và do ông mua của ông Thanh năm 1991. Tại “giấy nhượng vườn” viết tay ngày 16-3-1991 giữa ông Bích và vợ chồng ông Thanh, bà Kha thể hiện ông Thanh bán cho ông Bích mảnh vườn có diện tích khoảng 1000m2 có kích thước tứ cận cụ thể và không có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (BL 56,57).

Bà Hải thừa nhận năm 1998 khi ông Bích đưa bà sang Bãi Cháy ở, trên thửa đất có nhà cấp 4 nhưng ông Bích chưa trả tiền nên khoảng 10 ngày sau ông Thanh sang đòi tiền, bà trả 3 lần tổng số 3 triệu đồng. Sau đó ông Thanh lại bán cho bà thêm phần diện tích bên cạnh, bà xuất trình “giấy nhượng vườn” giữa bà và ông Thanh lập ngày 30-9-1998, nội dung vợ chồng ông Thanh bán cho bà Hải mảnh vườn nhưng không ghi kích thước, diện tích cụ thể và cũng không có xác nhận của chính quyền địa phương (BL104).

Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới và giao nhận diện tích của phường Bãi Cháy lập tháng 12-1998, bà Hải đứng tên chủ thửa đất số 5, có diện tích 2.571,3m2, biên bản đã được các hộ liền kề ký giáp ranh (BL186). Quá trình sử dụng ông Bích và bà Hải đã chuyển nhượng một phần thửa số 5 cho một số hộ (BL từ số 162 đến số 172); diện tích đất còn lại của thửa số 5 là 1.037,38m2.

Như vậy, thửa đất số 5 diện tích 2.571,3m2 do bà Hải đứng tên từ năm 1998 là tổng diện tích đất của ông Bích mua của ông Thanh trước khi bà Hải về chung sống với ông Bích và diện tích đất của bà Hải mua thêm của ông Thanh gộp lại. Ông Bích mua đất của ông Thanh nhưng năm 1998 ông Bích đã cho bà Hải đứng tên cả phần đất của hai người mua của ông Thanh. Từ năm 1998 đến năm 2005 ông Bích không có ý kiến phản đối việc bà Hải đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 5. Quá trình sử dụng, hai người đã làm giấy chuyển nhượng một phần đất cho các hộ khác. Do đó phần còn lại của thửa đất số 5 tuy là phần đất có nhà ông Bích mua năm 1991 nhưng cần xác minh làm rõ là tài sản riêng của ông Bích hay đã được coi là tài sản chung của ông Bích và bà Hải để quyết định phân chia tài sản cho thỏa đáng.

Lẽ ra, quyết định giám đốc thẩm cần hủy án phúc thẩm nêu trên để giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh để xác minh làm rõ một số mâu thuẫn của thửa số 5 để xử lại mới chính xác, đảm bảo quyền lợi của hai bên đương sự; nhưng Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm và phúc thẩm xác định thửa số 5 là tài sản riêng của ông Bích và thửa đất số 31 là tài sản chung của ông Bích và bà Hải là chưa có cơ sở”.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và có thêm ý kiến bổ sung về việc Tòa án các cấp quyết định chị Hoàng Thị Hồng Nhung phải chịu 17.190.816 đồng án phí là không đúng.

XÉT THẤY

1. Về quan hệ hôn nhân

Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định không công nhận ông Lê Ngọc Bích và bà Nguyễn Thị Hải là vợ chồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

2. Về phần chia tài sản (nhà đất)

a. Đối với thửa đất số 31 tờ bản đồ số 54 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Theo bà Hải khai thì vào năm 1998 bà và ông Bích mua chung một thửa đất của ông Vi Văn Thơ. Khi lập bản đồ địa chính năm 1998 chia tách thành hai thửa gồm thửa số 29 và thửa số 31. Ông Bích đứng tên thửa số 29 và đã bán cho bà Lệ lấy tiền tiêu riêng, còn thửa số 31 bà đứng tên và năm 2002 bà đã cho con gái riêng là Hoàng Thị Hồng Nhung. Tuy nhiên bà Hải lại không xuất trình được chứng cứ chứng minh bà Hải và ông Bích mua chung thửa đất của ông Vi Văn Thơ năm 1998 và khi lập bản đồ địa chính năm 1998 thì ông Bích và bà Hải đã thỏa thuận chia tách mảnh đất thành thửa số 29 và thửa số 31. Qua lời khai của các nhân chứng như vợ chồng ông Trịnh Sồi Tắc và bà Đoàn Thị Minh, ông Vi Văn Thơ (là những người bán đất cho ông Bích, bà Hải) và bà Mai Thị Lệ (là người mua đất của ông Bích, bà Hải), ông Phạm Xuân Nến, xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Bãi Cháy tại “Biên bản xác minh” ngày 11-7-2005 thì có cơ sở xác định ông Bích và bà Hải mua thửa đất số 31 của vợ chồng ông Tắc, bà Minh; còn thửa đất số 29, ông Bích, bà Hải mua của ông Thơ sau đó bán cho bà Lệ và bà Lệ đã trực tiếp trả tiền cho bà Hải. Hơn nữa, sau khi bán thửa đất số 29, bà Hải, ông Bích còn cùng nhau xây dựng căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 31. Chị Nhung (con riêng của bà Hải) thừa nhận khi xây nhà cấp 4 trên thửa đất số 31, ông Bích là người trông nom việc xây dựng (BL số 329). Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định thửa đất số 31 cùng các tài sản trên thửa đất này là tài sản chung của ông Bích, bà Hải là có căn cứ. Do quan hệ giữa ông Bích và bà Hải không còn được công nhận quan hệ vợ chồng và các bên không chứng minh được số tiền đóng góp của mỗi bên là bao nhiêu, nên Tòa án các cấp xác định mỗi bên được hưởng 1/2 số tiền bồi thường của thửa đất số 31 và tài sản trên đất là có căn cứ, đúng pháp luật.

b. Về thửa đất số 5 tờ bản đồ số 54 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Bà Hải thừa nhận thửa đất số 5 hiện ông Bích, bà Hải đang quản lý, sử dụng là do ông Bích nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Thanh, bà Kha từ năm 1991 nhưng cho rằng bà Hải đã trả nợ thay cho ông Bích nên ông Bích đã gán thửa đất này cho bà và yêu cầu vợ chồng ông Thanh, bà Kha viết giấy nhượng đất cho bà Hải. Sau đó, bà Hải lại khai rằng bà mua thửa đất số 5 của vợ chồng ông Thanh, bà Kha ngày 30-9-1998, nhưng bà Hải lại không xuất trình được tài liệu nào để chứng minh. Mặt khác những lời khai này không được ông Bích và vợ chồng ông Thanh, bà Kha là chủ đất thừa nhận. Thửa đất mà vợ chồng ông Thanh, bà Kha chuyển nhượng cho ông Bích và bà Hải theo “Biên nhận nhượng vườn” đề ngày 30-9-1998 được xác định là thửa đất liền kề với thửa đất ông Bích mua năm 1991 và thửa đất này ông Bích, bà Hải đã chuyển nhượng cho gia đình chị Cao Thị Nguyệt và gia đình chị Phạm Thị Bích Nguyệt. Ông Bích khai việc để bà Hải đứng tên trên bản đồ địa chính lập năm 1998 đối với thửa đất số 5 là để bà Hải đứng tên để tiện đóng thuế và nghĩ là vợ chồng ai đứng tên cũng được. Như vậy có căn cứ cho thấy năm 1991 ông Bích mua của ông Thanh khoảng 1000m2 đất và sau khi mua đất ông Bích đã làm nhà cấp 4, chuồng trại để chăn nuôi. Năm 1998 ông Bích và bà Hải mua thêm diện tích vườn của ông Thanh. Khi mua bán các bên đều không ghi rõ ràng diện tích, mốc giới chi tiết, nên không có căn cứ xác định diện tích chính xác đã chuyển nhượng. Năm 1998, ông Bích đưa bà Hải và con riêng của bà Hải về chung sống đã nhập khẩu về đây, sử dụng chung và khi kê khai, ông Bích đã đồng ý để bà Hải đứng tên trên tờ bản đồ địa chính số 54 phường Bãi Cháy với diện tích 2.571,3m2 bao gồm cả diện tích đất mà ông Bích mua năm 1991 và cả diện tích đất mà ông Bích và bà Hải mua năm 1998. Năm 2002, ông Bích và bà Hải cùng phá nhà cũ xây dựng nhà mái bằng kiên cố cùng các công trình phụ, tường bao quanh... trên thửa đất này. Quá trình giải quyết tranh chấp, ông Bích và bà Hải đều khai thửa đất số 5 là tài sản riêng của mình, không ai khai là tài sản chung.

Nghiên cứu các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án cho thấy chưa đủ căn cứ để kết luận ông Bích đã nhập thửa đất số 5 là tài sản riêng của ông Bích mua từ năm 1991 thành tài sản chung của ông Bích và bà Hải hay chưa. Cũng chưa đủ cơ sở để khẳng định thửa đất số 5 là tài sản riêng của ông Bích như Hội đồng giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định. Do đó cần phải yêu cầu đương sự xuất trình các tài liệu chứng cứ và xác minh làm rõ các vấn đề: việc chuyển nhượng đất giữa ông Thanh và ông Bích năm 1991, giữa ông Thanh và ông Bích, bà Hải năm 1998 có hợp pháp hay không; việc bà Hải kê khai và đứng tên toàn bộ diện tích đất 2.571,3m2 tại thửa số 5 và thửa số 6 tờ bản đồ địa chính số 54 phường Bãi Cháy năm 1998 (Hồ sơ kê khai và đăng ký lúc đó có thể hiện ông Bích có biết hay không, ý kiến của ông Bích như thế nào, giữa hai bên có thỏa thuận gì về việc này không); năm 2002 khi phá nhà cũ nằm trên đất của ông Bích nhận chuyển nhượng năm 1991, ông Bích có đồng ý để bà Hải cùng làm nhà trên đất này không, kinh phí xây dựng của ai, mức đóng góp của các bên như thế nào và các bên có thỏa thuận gì không. Việc làm rõ các vấn đề trên là rất quan trọng cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.

Theo tài liệu xác minh năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Bích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24-5-2006 và sau đó ông Bích đã chuyển nhượng tòan bộ nhà đất cho ông Cung, bà Lan. Do vậy khi giải quyết lại, Tòa án cũng phải xem xét thực tế này để giải quyết đảm bảo quyền lợi của các bên.

Ngoài ra trong vụ án này Tòa án các cấp còn có những sai lầm nghiêm trọng như: chị Hoàng Thị Hồng Nhung là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn, không có yêu cầu độc lập, nhưng Tòa án các cấp lại buộc chị Nhung phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền đền bù của thửa đất số 31 là không đúng; Tòa án các cấp quyết định tạm giữ 473.027.206 đồng tiền đền bù của thửa đất số 31 để đảm bảo cho việc thi hành án trong khi đó các đương sự chỉ phải chịu một khoản tiền án phí rất nhỏ so với số tiền được nhận là không đúng với quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy Quyết định giám đốc thẩm số 24/2007/DS-GĐT ngày 29-01-2007 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, bản án dân sự phúc thẩm số 37/2005/HNGĐ-PT ngày 23-12-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản án dân sự sơ thẩm số 39/2005/DSST ngày 14-10-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long về phần giải quyết chia tài sản khi ly hôn giữa ông Lê Ngọc Bích và bà Nguyễn Thị Hải.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do quyết định giám đốc thẩm của Tòa dân sự TANDTC, các bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Chưa đủ căn cứ để xác định thửa đất số 5 là tài sản chung của nguyên đơn và bị đơn hay là tài sản riêng của nguyên đơn. Ngoài ra, các Tòa án còn sai lầm nghiêm trọng khi buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn phải chịu án phí.


118
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 31/2007/DS-GĐT ngày 13/09/2007 về vụ án ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

Số hiệu:31/2007/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/09/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về