Quyết định giám đốc thẩm 15/2010/DS-GĐT ngày 07/04/2009 về vụ án tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn ông Huỳnh Văn Tâm và bị đơn Công ty TNHH xây dựng Hưng Phát

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 15/2010/DS-GĐT NGÀY 07/4/2009 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG HÙYNH VĂN TÂM VÀ BỊ ĐƠN CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG HƯNG PHÁT 

….

Ngày 07-4-2009, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” giữa:

1/ Nguyên đơn: ông Huỳnh Văn Tâm sinh năm 1957, trú tại nhà số 35 đường Tôn Đức Thắng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

2/ Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Xây dựng Hưng Phát.

Địa chỉ: Nhà số 77 đường Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Do ông Lê Việt Hùng trú tại tổ 48, khu vực 7, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đại diện theo ủy quyền.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19-4-2001 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Huỳnh Văn Tâm trình bày:

Năm 1999, được biết Ban dự án hỗ trợ y tế Quốc gia tỉnh Bình Định có tổ chức đấu thầu thi công công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn nên ông đã làm đầy đủ các thủ tục tham gia đấu thầu. Do không có tư cách pháp nhân nên ông đã nhờ Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát (sau đây gọi tắt là Công ty Hưng Phát) có tư cách pháp nhân đứng ra đấu thầu và nhận thầu công trình sau đó giao lại cho ông thi công. Theo thỏa thuận ông là người trực tiếp thi công công trình, tự thuê nhân công, tự bỏ vốn và chịu trách nhiệm đối với chất lượng công trình… Khi chủ đầu tư chuyển tiền về tài khoản của Công ty thì ông phải nộp cho Công ty các khoản gồm (thuế GTGT: 10%; chi phí điều hành và thuế thu nhập doanh nghiệp: 3% giá trị công trình), số tiền còn lại Công ty sẽ thanh toán cho ông thông qua các phiếu chi của Công ty.

Công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn đã khởi công vào tháng 3-1999, được đưa vào sử dụng ngày 31-8-1999. Tổng giá trị quyết toán công trình sau khi kiểm toán là 2.249.181.849 đồng. Chủ đầu tư đã chuyển về cho Công ty Hưng Phát tổng số tiền là 2.207.576.000 đồng. Cụ thể:

- Ngày 8-5-1999 chuyển 214.000.000 đồng;

- Ngày 29-6-1999 chuyển 200.000.000 đồng;

- Ngày 24-7-1999 chuyển 1.000.000.000 đồng;

- Ngày 10-11-1999 chuyển 400.000.000 đồng;

- Ngày 15-2-2001 chuyển 234.127.000 đồng;

- Ngày 26-2-2004 chuyển 159.449.000 đồng.

Công ty đã chuyển tiền cho ông qua các phiếu chi, cụ thể là:

- Ngày 08-01-1999 chi 46.000.000 đồng;

- Ngày 8-6-1999 chi 27.000.000 đồng;

- Ngày 30-6-1999 chi 194.000.000 đồng và 20.000.000 đồng;

- Ngày 26-7-1999 chi 970.000.000 đồng;

- Ngày 11-11-1999 chi 358.000.000 đồng;

- Ngày 21-3-2001 chi 30.000.000 đồng.

Tổng số tiền ông đã nhận từ công ty là 1.645.000.000 đồng.

Đối với phiếu chi số 12 ngày 11-5-1999 với số tiền 207.580.000 đồng ông chưa được nhận vì ông không ký vào phiếu chi.

Như vậy, sau khi trừ 3% chi phí quản lý điều hành theo thỏa thuận, công ty còn nợ ông tiền xây dựng công trình là 496.349.000 đồng, ông yêu cầu công ty trả ông khoản tiền còn thiếu này.

Ông yêu cầu công ty trả ông 2 khoản tiền lãi sau:

- Ngày 15-02-2001, chủ đầu tư chuyển về tài khoản của công ty số tiền 234.127.000 đồng, những công ty mới trả ông 30.000.000 đồng, sau khi trừ chi phí điều hành 3% (7.023.000 đồng) còn lại 197.103.200 đồng chưa trả ông; ông tạm tính lãi kể từ ngày 15-2-2001 đến khi xét xử sơ thẩm là 72 tháng x 197.103.200đ x 1,425% là 202.227.000 đồng.

- Ngày 26-02-2004 chủ đầu tư chuyển về tài khoản công ty 159.449.000 đồng nhưng ông đã yêu cầu Tòa án phong tỏa tài khoản của công ty để đảm bảo thi hành án sau này. Ông yêu cầu tính lãi từ ngày công ty nhận tiền đến khi xét xử sơ thẩm là 10.842.000 đồng.

Về thuế giá trị gia tăng (GTGT) 10%, theo thỏa thuận ông phải nộp tổng cộng là 208.604.803 đồng, trong đó thuế được khấu trừ trên hóa đơn mua hàng của ông là 102.959.000 đồng còn lại nộp 105.645.742 đồng tiền mặt. Theo Thông tư số 142/1999/TT-BTC của Bộ Tài chính và Thông báo số 868 ngày 13-7-2000 của Bộ Tài chính thì công trình “Trung tâm y tế huyện An Nhơn: là dự án dùng nguồn vốn ODA, nên không phải chịu thuế GTGT, ông yêu cầu Công ty trả cho ông tiền thuế GTGT đã nộp là 208.604. 803 đồng.

Tổng cộng ông yêu cầu Công ty trả ông 918.022.000 đồng

Bị đơn Công ty TNHH Hưng Phát do ông Đỗ Đường Đệ là Giám đốc công ty đại diện theo pháp luật; ông Đệ ủy quyền cho ông Lê Việt Hùng theo giấy ủy quyền ngày 06-11-2007, ông Hùng trình bày:

Việc ông Tâm nhờ công ty ký hợp đồng để nhận thầu và thi công công trình với giá trị quyết toán và số tiền chủ đầu tư đã chuyển cho công ty như ông Tâm trình bày là đúng. Ngày 26-02-1999 công ty đã ra quyết định số 10/QĐ-HP bổ nhiệm ông Tâm làm Phó Giám đốc công ty và giao trách nhiệm thi công công trình trên cho ông Tâm. Hai bên đã thỏa thuận trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện công trình thông qua phiếu giao việc số 21/PGV-HP ngày 22-3-1999. Theo đó ông Tâm phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và công ty nộp 10% thuế VAT và 6% thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí điều hành, còn lại công ty chuyển trả cho ông Tâm. Khi chủ đầu tư chuyển tiền về, công ty đã nộp thuế GTGT của công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn là 190.244.081 đồng, nộp 3% thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ 3% chi phí quản lý điều hành, số còn lại chuyển bằng tiền mặt đầy đủ cho ông Tâm. Tổng cộng công ty đã chi cho ông Tâm là 1.852.580.000 đồng. Cụ thể:

- Ngày 08-1-1999 chi tạm ứng cho ông Tâm số tiền: 46.000.000 đồng;

- Ngày 11-5-1999 chi tạm ứng cho ông Tâm số tiền: 207.580.000 đồng;

- Ngày 8-6-1999 chi tạm ứng cho ông Tâm số tiền: 27.000.000 đồng;

- Ngày 30-6-1999 chi 194.000.000 đồng và 20.000.000 đồng;

- Ngày 26-7-1999 chi tạm ứng cho ông Tâm số tiền: 970.000.000 đồng;

- Ngày 11-1 1-1999 chi tạm ứng cho ông Tâm số tiền: 358.000.000 đồng;

- Ngày 21-3-2001 chi tạm ứng cho ông Tâm số tiền: 30.000.000 đồng.

- Đối với số tiền là 207.580.000 đồng trong phiếu chi ngày 11-5-1999, do sơ suất của kế toán không buộc ông Tâm ký vào phiếu chi khi nhận tiền, nhưng trước khi lấy tiền ông Tâm đều phải có giấy đề nghị tạm ứng và Giám đốc công ty đã duyệt chi.

- Đối với số tiền hoàn thuế giá trị gia tăng: công ty đã nộp 190.244.081 đồng tiền thuế GTGT thay cho ông Tâm. Công ty được hoàn thuế GTGT với số tiền 97.698.000 đồng, nhưng đã bị Cục Thuế thu hồi do công ty vi phạm hành chính về chế độ kế toán, nên không đồng ý trả theo yêu cầu của ông Tâm.

Đối với số tiền lãi ông Tâm yêu cầu, công ty không đồng ý vì đã chuyển đủ tiền cho ông Tâm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2005/DSST ngày 25-01-2005, Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

1- Buộc Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát do ông Đỗ Đường Đệ làm giám đốc có nghĩa vụ thanh toán cho ông Huỳnh Văn Tâm số tiền 481.481.514.500 đồng, trong đó nợ gốc: 394.414.500 đồng; nợ 1ãi: 87.100.000 đồng.

2- Bác yêu cầu cha ông Đỗ Đường Đệ Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát yêu cầu giám định một số chứng từ hóa đơn mà ông Tâm mua vật tư xây dựng Trung tâm y tế huyện An Nhơn, vì việc mua bán vật tư của ông Tâm không liên quan đến việc ông Đệ phải thanh toán nợ cho ông Tâm.

3- Bác yêu cầu của ông Huỳnh Văn Tâm cho rằng Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát chưa thanh toán cho ông số tiền 207.580.000 đồng vì không có đủ cơ sở.

4- Yêu cầu Chi nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Bình Định tiếp tục giữ tại Chi nhánh số tiền 159.449.000 đồng (theo biên bản ngày 26-4-2003) để bảo đảm thi hành án.

- Ngày 03-02-2005 ông Đỗ Đường Đệ, đại diện Công ty Hưng Phát kháng cáo.

- Ngày 04-02-2005 ông Huỳnh Văn Tâm kháng cáo, đề nghị Công ty Hưng Phát trả cho ông thêm 284.594.000 đồng ngoài số tiền mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Tại Quyết định kháng nghị số 271/QĐKN-DS ngày 01-3-2005 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm nêu trên và đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao giải quyết lại do vi phạm thủ tục tố tụng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 27/2005/DSPT ngày 19-5-2005 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định:

Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 03/2005/DSST ngày 25-01-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2008/DSST ngày 25-1-2008 Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

1- Buộc Công ty TNHH Hưng Phát có trụ sở tại 77 Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định do ông Đỗ Đường Đệ làm Giám đốc có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu đối với công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn cho ông Tâm là 290.401.502 đồng.

2- Buộc Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Huỳnh Văn Tâm số tiền đã được hoàn thuế GTGT đối với công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn với số tiền được hoàn là 97.698.443 đồng.

3- Không chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn Tâm yêu cầu buộc Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát phải trả cho ông số tiền lãi tính theo lãi suất quá hạn tính cho khoản tiền 197.103.200 đồng với số tiền lãi là 202.227.883 đồng vì không có căn cứ.

4- Không chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn Tâm yêu cầu Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát phải trả cho ông số tiền lãi là 10.842.532 đồng trên số tiền 159.449.000 đồng là số tiền đang bị tạm giữ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bình Định vì không có căn cứ.

Ngày 03-02-2008, Công ty Hưng Phát kháng cáo với nội dung: ông Tâm đã nhận khoản tiền 207.580.000 đồng. Tòa án buộc Công ty phải trả khoản tiền này cho ông Tâm là không đúng.

Công ty không đồng ý trả lại số tiền hoàn thuế 97.698.443 đồng cho ông Tâm.

Ngày 4-2-2008 ông Huỳnh Văn Tâm có đơn kháng cáo, không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 101/2008/DSST ngày 29-9-2008 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định sửa một phần bản án sơ thẩm:

Buộc Công ty TNHH xây dựng Hưng Phát có trụ sở tại 77 Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định do ông Đỗ Đường Đệ là Giám đốc phải trả cho ông Huỳnh Văn Tâm các khoản tiền sau:

- Tiền thiếu đối với công trình Trung tâm y tế An Nhơn: 239.877.359 đồng;

- Tiền hoàn thuế GTGT của công trình: 97.698.443 đồng;

- Tiền lãi của số tiền 220.079.380 đồng do chậm trả: 65.106.816 đồng.

Tổng cộng là 402.682.618 đồng.

2- Bác yêu cầu của ông Huỳnh Văn Tâm đòi Công ty TNHH xây dựng Hưng Phát trả các khoản tiền với tổng số tiền là 515.341.600 đồng.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Đỗ Đường Đệ Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát khiếu nại với nội dung không đồng ý trả ông Tâm khoản tiền 207.580.000 đồng và khoản tiền hoàn thuế GTGT 97.689.443 đồng.

Tại Quyết định số 94/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 30-6-2009, Viện Trưởng VKSNDTC đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên, đề nghị huỷ bản án phúc thẩm nêu trên và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2008/DSST ngày 25-01-2008 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại vụ án với nhận định: (trích)

“…Ông Huỳnh Văn Tâm được Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hơn Xây dựng Hưng Phát (sau đây gọi tắt là công ty) bổ nhiệm làm Phó Giám đốc kiêm Đội trưởng đội xây dựng. Ông Tâm là người nhận công trình và thi công công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn. Các khoản tiền do bên chủ dự án đầu tư công trình chuyển về cho Công ty. Công ty giữ lại các khoản để nộp thuế, chi phí quản lý điều hành mà ông Tâm và Công ty đã thỏa thuận trước, số còn lại Công ty chuyển cho ông Tâm qua các phiếu chi của Công ty. Công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn khởi công tháng 3/1999 được đưa vào sử dụng ngày 31-8-1999; tổng giá trị quyết toán là: 2.249.181.849 đồng. Bên chủ đầu tư (bên A) đã chuyển vào tài khoản của Công ty 6 đợt, với tổng số là: 2.207.576.000 đồng, còn 41.605.849 đồng chưa chuyển.

Công ty được giữ lại 3% chi phí quản lý và 3% nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (2.207.576. 00 đồng x 60% = 132.454.560 đồng). Công ty Hưng Phát và ông Tâm đã nộp số tiền thuế GTGT 190.244.081 đồng. Do vậy, Công ty còn phải chuyển trả cho ông Tâm sau khi đã trừ các chi phí quản lý điều hành và nộp thuế là 2.207.570.000 đồng - (132.454.560 đồng +190.244.081 đồng)= 1.884.877.359 đồng.

Qua 6 lần có phiếu chi hợp lệ của Công ty Hưng Phát, ông Huỳnh Văn Tâm đã nhận số tiền là 1.645.000.000 đồng (BL 452). Còn đối với phiếu chi ngày 11-5-1999 tới số tiền là 207.580.000 đồng, ông Tâm không thừa nhận đã nhận khoản tiền này, nhưng tại giấy đề nghị tạm ứng và trong Bảng kê chi tiết thanh toán công trình do ông Tâm lập gửi Công ty ngày 15-8-2001 có thể hiện tổng số tiền ông đã nhận là 1.759.580.000 đồng tính đến ngày 15-8-2001 (trong đó có khoản tiền 207.580.000 đồng), (BL 155, 160). Do đó việc Công ty TNHH Hưng Phát cho rằng ông Tâm đã nhận số tiền 207.580.000 đồng ở phiếu chi ngày 11-5-1999 là có căn cứ. Vì vậy, số tiền ông Tâm đã nhận của Công ty Hưng Phát là: 1.645.000.000 đồng + 207.580.000 đồng = 1.852.580.000 đồng.

Như vậy Công ty Hưng Phát còn nợ ông Tâm số tiền là:

1.884.877.359 đồng - 1.852.580.000 đồng = 32.297.359 đồng.

Việc Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định ông Tâm không ký vào phiếu chi số 12 ngày 11-5-1999, để buộc Công ty phải thanh toán khoản tiền trên theo yêu cầu khởi kiện của ông Tâm là không phù hợp với những tình tiết khách quan trong vụ án.

Mặt khác về khoản tiền 207.580.000 đồng, tại phiếu chi ngày 11-5-1999 tuy không có chữ ký của ông Tâm, nhưng trong bảng kê chi tiết ông Tâm đã nhận số tiền này, trong đơn kiện cũng như các lời khai của ông Tâm đều không yêu cầu tranh chấp số tiền trên và tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19-5-2005 ông Tâm đã rút kháng cáo đối với khoản tiền 207.580.000 đồng (BL 446, 510, 747).

Tòa án cấp phúc thẩm không thừa nhận Công ty đã thanh toán cho ông Tâm 207.580.000 đồng và buộc Công ty phải thanh toán cho ông Tâm 239.877.359 đồng tiền nợ xây dựng công trình và tiền lãi chậm trả 65.106.816 đồng là không để căn cứ vững chắc, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự …”

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quan điểm vẫn giữ nguyên như nội dung kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Ông Huỳnh Văn Tâm không có tư cách pháp nhân nên đã nhờ Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát đứng ra đấu thầu thi công công trình xây dựng, cải tạo nâng cấp Trung tâm y tế huyện An Nhơn. Sau khi trúng thầu, Công ty Hưng Phát đã giao lại công trình cho ông Tâm thi công. Giữa công ty và ông Tâm đã thoả thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ thông qua phiếu giao việc số 21/GV-HP ngày 22-3-1999 với nội dung là các khoản tiền do bên chủ đầu tư công trình chuyển về cho Công ty Hưng Phát, công ty sẽ giữ lại 16% giá trị công trình trong đó để 3% chi phí quản lý điều hành, 3% nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và 10% nộp thuế VAT, số còn lại công ty thanh toán cho ông Tâm, ông Tâm phải tự thuê nhân công, thu chi, lời ăn lỗ chịu.

Căn cứ tài liệu trong hồ sơ thì tổng giá trị quyết toán của công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn là 2.249.181.849 đồng. Các bên đều thừa nhận chú đầu tư (bên A) đã chuyển vào tài khoản của Công ty Hưng Phát tổng số tiền là: 2.207.576.000 đồng, chủ đầu tư còn nợ 41.605.849 đồng.

- Đối với số tiền Công ty Hưng Phát chi cho ông Tâm, hai bên còn có tranh chấp. Ông Tâm chỉ thừa nhận nhận từ Công ty Hưng Phát 1.645.000.000 đồng. Phía Công ty Hưng Phát cho rằng ông Tâm đã nhận số tiền 1.852.580.000 đồng gồm các khoản tiền như ông Tâm xác nhận, ngoài ra ông Tâm còn nhận từ công ty số tiền 207.580.000 đồng theo phiếu chi số 12 ngày 11-5-1999, do sơ xuất kế toán của công ty không yêu cầu ông Tâm ký vào phiếu chi.

Công ty Hưng Phát xuất trình phiếu chi số 12 đề ngày 11-5-1999 có nội dung chi cho ông Tâm 207.580.000 đồng về khoản ông Tâm ứng tiền cho công trình Trung tâm y tế huyện An Nhơn, để cho rằng ông Tâm đã nhận khoản tiên này. Xem xét phiếu chi này thấy rằng đây là chứng cứ có giá trị pháp lý để xác định người trực tiếp nhận khoản tiền này là ai, nhưng phía dưới phiếu chi lại không có chữ ký của người nhận tiền là ông Tâm. Công ty cũng cho rằng đơn khởi kiện đề ngày 19-4-2001 ông Tâm chỉ yêu cầu buộc Công ty Hưng Phát trả ông số tiền 204.127.000 đồng cùng tiền lãi chậm trả, không yêu cầu về khoản tiền 207.580.000 đồng; tại các tài liệu khác như “Bảng cân đối thanh toán các công trình đã thực hiện” đề ngày 6-9-2001; “Bảng kê chi tiết thanh toán công trình trung tâm y tế huyện An Nhơn” đề ngày 15-8-2001 do chính ông Tâm lập gửi Công ty Hưng Phát có nội dung ông Tâm kê các khoản tiền đã nhận từ công ty số tiền là 1.759.580.000 đồng trong đó có số tiền 207.580.000 đồng. Tuy nhiên, có một số khoản tiền mà ông Tâm thừa nhận đã nhận và có phiếu chi hợp lệ lại không được thể hiện trong các bảng kê này như khoản tiền 46.000.000 đồng nhận ngày 08-01-1999, khoản tiên 27.000.000 đồng nhận ngày 08-6-1999. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào các bảng kê nêu trên cũng chưa đủ cơ sở để xác định ông Tâm đã nhận số tiền 207.580.000 đồng theo phiếu chi số 12 ngày 11-5-1999. Sau khi xét xử sơ thẩm lần 1 ông Tâm kháng cáo yêu cầu xem xét lại khoản tiền 207.580.000 đồng ông chưa nhận từ công ty, tại phiên tòa phúc thẩm lần 1 ông Tâm xin rút kháng cáo đối với khoản tiền này; nhưng sau đó tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm lần 2 ông Tâm đều yêu cầu công ty phải trả cho ông khoản tiền 207.580.000 đồng. Như vậy, việc rút kháng cáo của ông Tâm ở phiên tòa phúc thẩm lần 1 cũng chưa phải là căn cứ để xác định ông Tâm đã nhận được khoản tiền này.

Tại phiên tòa sơ thẩm lần 2, bà Trần Thị Khán nguyên là kế toán của Công ty Hưng Phát khai số tiền 207.580.000 đồng ông Tâm không nhận mà bà Vân (vợ của ông Tâm) nhận tại Ngân hàng Công thương tỉnh Bình Định (BL 1028) trong khi đó đại diện của Công ty Hưng Phát lại khai kế toán của công ty đã giao số tiền này cho ông Tâm tại ngân hàng (BL 1030). Lẽ ra, trong trường hợp này cần lấy lời khai của bà Vân về việc có nhận số tiền trên thay ông Tâm hay không, đồng thời cần xác minh tại Ngân hàng Công thương tỉnh Bình Định xem có việc Công ty Hưng Phát chi cho ông Tâm hoặc bà Vân số tiền trên hay không. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa làm rõ các vấn đề nêu trên đã xác định ông Tâm chưa nhận số tiền 207.580.000 đồng, còn kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng ông Tâm đã nhận khoản tiền này đều chưa đủ cơ sở vững chắc.

- Về khoản tiền hoàn thuế GTGT: ông Tâm cho rằng công trình này thuộc dự án sử dụng nguồn vốn ODA nên không phải nộp thuế GTGT, còn Công ty Hưng Phát xác định tiền hoàn thuế đã bị thu hồi nên không có để trả cho ông Tâm. Thực tế có việc công ty được hoàn thuế GTGT 97.698.000 đồng và sau đó công ty đã bị thu hồi lại số tiền này. Tuy nhiên, lý do về việc bị thu hồi về khoản tiền hoàn thuế do lỗi của công ty chưa làm đúng chế độ kế toán tài chính hay do lỗi của ông Tâm không cung cấp đủ các hoá đơn chứng từ theo quy định hay do công trình này không được hoàn thuế thì Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xác minh tại Cục thuế để làm rõ, nên cần phải xem xét lại, nếu lý do thu hồi thuộc lỗi của bên nào bên đó phải chịu.

- Đối với khoản tiền lãi: Theo nội dung phiếu giao việc số 21/PGV ngày 22-3-1999 thì sau khi công ty nhận tiền từ chủ đầu tư, trừ chi phí, thuế thu nhập và thuế GTGT, số tiền còn lại phải chuyển trả cho ông Tâm, nên sau khi đối trừ các khoản thuế, chi phí phải nộp cho công ty, các khoản tiền mà công ty đã nhận từ chủ đầu tư nếu chưa trả đủ cho ông Tâm thì công ty phải trả lại cho ông Tâm và phải tính lãi của số tiền chậm trả đó là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 101/2008/DSPT ngày 29/09/2008 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2008/DSST ngày 25-01-2008 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định về vụ án “tranh chấp hợp đồng dịch vụ” giữa nguyên đơn là ông Huỳnh Văn Tâm với bị đơn là Công ty TNHH Xây dựng Hưng Phát.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


128
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 15/2010/DS-GĐT ngày 07/04/2009 về vụ án tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn ông Huỳnh Văn Tâm và bị đơn Công ty TNHH xây dựng Hưng Phát

Số hiệu:15/2010/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/04/2009
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về