- Mức xử phạt hành chính cho các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến kinh tế hiện nay là bao nhiêu?
- Quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế được thực hiện như thế nào?
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính cho các hành vi liên quan đến bình đẳng giới là bao lâu?
- Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là gì?
Mức xử phạt hành chính cho các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến kinh tế hiện nay là bao nhiêu?
Mức xử phạt hành chính cho các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến kinh tế từ ngày 01/5/2026 là từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng tùy theo hành vi vi phạm.
Mức xử phạt nêu trên đã được nâng lên so với các quy định cũ là từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng hoặc từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng cho cùng 1 hành vi vi phạm.
Căn cứ theo khoản 1, 2 Điều 7 Nghị định 125/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 Nghị định 76/2026/NĐ-CP) quy định mức xử phạt cho các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến kinh tế như sau:
(1) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Xúi giục người khác trì hoãn cung cấp hoặc trì hoãn, không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định các thông tin, tài liệu, mẫu hồ sơ theo quy định đối với người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới.
(2) Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Dùng vũ lực cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Ép buộc người khác sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới.
Như vậy, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến kinh tế bị xử phạt hành chính với mức tiền phạt từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng hoặc từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, tùy theo hành vi vi phạm.
Đồng thời, chủ thể thực hiện một trong các hành vi vi phạm tại mục (2) nêu trên sẽ phải thực hiện thêm hình phạt bổ sung là bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm (trừ các loại giấy phép, chứng chỉ, giấy đăng ký hoạt động).
Ngoài ra, chủ thể có hành vi vi phạm sẽ phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với từng hành vi gây ra căn cứ theo khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2021/NĐ-CP.
Lưu ý, mức phạt tiền nêu trên là mức phạt dành cho cá nhân, trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Trường hợp hộ gia đình, hộ kinh doanh có hành vi vi phạm hành chính thì áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân.
Trường hợp chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới thì áp dụng mức xử phạt theo quy định của Nghị định 118/2021/NĐ-CP.
(căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 125/2021/NĐ-CP).

Mức xử phạt hành chính cho các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến kinh tế hiện nay là bao nhiêu? (Hình từ Internet)
Quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế được thực hiện như thế nào?
Căn cứ theo Điều 12 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế như sau:
(1) Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.
(2) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:
- Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;
- Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính cho các hành vi liên quan đến bình đẳng giới là bao lâu?
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 125/2021/NĐ-CP quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới được thực hiện như sau:
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới là một năm.
- Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới đã kết thúc là hành vi được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và có căn cứ xác định hành vi đã thực hiện xong trước thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện vi phạm hành chính. Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là ngày đã thực hiện xong hành vi vi phạm đó.
- Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới đang được thực hiện là hành vi đang diễn ra tại thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện vi phạm hành chính và hành vi đó vẫn đang xâm hại trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bình đẳng giới.
Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là gì?
Căn cứ theo Điều 6 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định về các nguyên tắc cơ bản liên quan đến bình đẳng giới bao gồm:
(1) Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
(2) Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
(3) Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
(4) Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
(5) Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
(6) Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];