Ai có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định hiện nay?

07:33 | 03/10/2026
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong một số trường hợp. Sau đây là quy định về những người có thể yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Nội dung chính
  1. Ai có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định hiện nay?
  2. Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên là gì?
  3. Cha mẹ đánh đập con cái thì bị xử phạt như thế nào?

Ai có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định hiện nay?

Theo Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì những cá nhân, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên:

(1) Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên

(2) Người thân thích

(3) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình

(4) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

(5) Hội liên hiệp phụ nữ

(6) Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi sau đây:

- Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

- Phá tán tài sản của con;

- Có lối sống đồi trụy;

- Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Theo đó, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác này khi phát hiện hành vi nêu trên có thể đề nghị các cơ quan ở mục (3) (4) (5) yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

>>XEM THÊM: Cha mẹ ly hôn thì con chưa thành niên có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cả cha lẫn mẹ luôn có được không?

>>XEM THÊM: Tài sản riêng của con chưa thành niên thì cha mẹ có phải đương nhiên là người quản lý hay không?

Ai có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định hiện nay?

Ai có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định hiện nay? (Hình từ Internet)

Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên là gì?

Tại Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên như sau"

- Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

- Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây:

+ Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;

+ Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;

+ Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

- Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Cha mẹ đánh đập con cái thì bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ Điều 37 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng
1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Hành hạ, ngược đãi như bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;
b) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Người có hành vi bạo lực gia đình không kịp thời đưa người bị bạo lực gia đình đi cấp cứu, điều trị trong trường hợp người bị bạo lực gia đình cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc người bị bạo lực gia đình trong thời gian người bị bạo lực gia đình điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị bạo lực gia đình từ chối.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều này, trừ trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không phải là tài sản riêng của người thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2; các điểm a và b khoản 3 Điều này;
b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều này.

Theo đó, trường hợp cha mẹ có hành vi đánh đập con cái (nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự) sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

- Buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh liên quan đến hành vi bạo lực gia đình.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nhựt Hào Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.