Thực hiện pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa theo Công văn 21527/CHQ-GSQL của Cục Hải quan ra sao?
Ngày 10/9/2026, Cục Hải quan đã có Công văn 21527/CHQ-GSQL về việc thực hiện pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa.
>> TẢI VỀ Công văn 21527/CHQ-GSQL năm 2026

Cục Hải quan nhận được Công văn 1948/CCPT-CL ngày 18/8/2026 của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường phúc đáp Công văn 19637/CHQ-GSQL ngày 30/7/2026 của Cục Hải quan về việc thực hiện pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Liên quan đến vấn đề này, Cục Hải quan có ý kiến như sau:
(1) Về việc xác định Giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng là giấy phép của cơ quan quản lý chuyên ngành
Tại Công văn 1948/CCPT-CL nêu trên, Qúy Cục viện dẫn khoản 3 Điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP) và cho rằng trước ngày 01/7/2026, việc đăng ký tờ khai hải quan đối với các lỗ hàng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu chỉ được thực hiện khi có Giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng được Cục Chăn nuôi và Thú y xác nhận. Về nội dung này, Cục Hải quan có ý kiến như sau:
Theo khoản 1 Điều 29 Luật Quản lý ngoại thương 2017, quản lý theo giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp cấp giấy phép hoặc hình thức có giá trị pháp lý tương đương cho thương nhân để thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Trong khi đó, Giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng là chứng từ được xác nhận trong quá trình thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu, không phải giấy phép nhập khẩu hoặc văn bản cho phép nhập khẩu.
Khoản 1 Điều 24 Luật Hải quan năm 2014 đã thể hiện rõ “giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu” và “văn bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc miễn kiểm tra chuyên ngành” trong hồ sơ hải quan là các chứng từ khác nhau. Do đó, việc một chứng từ do cơ quan quản lý chuyên ngành tiếp nhận, xác nhận không đồng nghĩa chứng từ đó là “giấy phép” theo khoản 3 Điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP.
Vì vậy, không có cơ sở áp dụng quy định về thời điểm phải có giấy phép tại khoản 3 Điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP đối với giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng phải có trước thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
(2) Kiến nghị
Đối với vướng mắc đã nêu tại Công văn 19637/CHQ-GSQL ngày 30/7/2026, Cục Hải quan đề nghị Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường phối hợp với Cục Chăn nuôi và Thú y hướng dẫn cụ thể việc xử lý các lỗ hàng đã đăng ký tờ khai hải quan trước ngày 01/7/2026, đã đăng ký kiểm tra chất lượng trước ngày 01/7/2026 nhưng chưa hoàn thành thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng, làm cơ sở để cơ quan hải quan giải quyết thủ tục thông quan hàng hóa theo quy định; đồng thời rà soát các trường hợp tương tự đối với hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường để hướng dẫn thống nhất.
Cục Hải quan xin trao đổi và mong sớm nhận được ý kiến của quý Cục./.

Thực hiện pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa theo Công văn 21527/CHQ-GSQL của Cục Hải quan ra sao?
Trình tự thủ tục xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao ra sao?
Căn cứ theo Điều 3 Thông tư 34/2026/TT-BCT quy định về trình tự, thủ tục xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao như sau:
[1] Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương được Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành theo trình tự, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao của Bộ Công Thương được công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương và kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
[2] Trình tự, thủ tục xây dựng Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao
- Trên cơ sở các nguyên tắc, phân loại, phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được quy định tại Điều 4 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, các đơn vị thuộc Bộ rà soát, đánh giá, xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý. Việc xác định sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao phải bảo đảm quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 37/2026/NĐ-CP;
- Căn cứ kết quả đánh giá, xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được quy định tại điểm a khoản này, các đơn vị thuộc Bộ xây dựng Hồ sơ xác định mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao kèm theo mã số HS phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, gắn với yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng và gửi Hồ sơ về Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công;
- Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ về dự thảo Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao để xem xét, gửi lấy ý kiến của Bộ khoa học và Công nghệ; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ xử lý các ý kiến góp ý; hoàn thiện dự thảo Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao;
- Căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu quản lý bao gồm cả việc phát sinh sản phẩm, công nghệ mới, cảnh báo trong nước và quốc tế về rủi ro của sản phẩm, hàng hóa, các đơn vị thuộc Bộ rà soát, đánh giá, xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa; xây dựng hồ sơ xác định mức độ rủi ro và gửi đề xuất danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao sửa đổi, bổ sung kèm theo hồ sơ xác định mức độ rủi ro về Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công theo quy định tại Điều này để rà soát, xây dựng danh mục sửa đổi, bổ sung Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với quy định pháp luật.
Bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo Thông tư 34/2026/TT-BCT?
Căn cứ theo Điều 7 Thông tư 34/2026/TT-BCT quy định về việc bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa như sau:
- Sản phẩm, hàng hóa trong sản xuất trước khi đưa ra thị trường trong nước phải bảo đảm chất lượng theo quy định tại Điều 66 Nghị định 37/2026/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu trước khi đưa ra thị trường phải bảo đảm chất lượng theo quy định tại Điều 68 Nghị định 37/2026/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Sản phẩm, hàng hoá lưu thông trên thị trường phải bảo đảm chất lượng theo quy định tại Điều 69 Nghị định 37/2026/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Sản phẩm, hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử phải bảo đảm chất lượng theo quy định tại Điều 70 Nghị định 37/2026/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Chất lượng sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu phải bảo đảm chất lượng theo quy định tại Mục 3 Chương III Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Trên đây là thông tin *Thực hiện pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa theo Công văn 21527/CHQ-GSQL của Cục Hải quan ra sao?
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];