Có bắt buộc phải trả phụ cấp lương cho người lao động không?
Phụ cấp lương không phải khoản bắt buộc phải có đối với mọi người lao động. Doanh nghiệp bắt buộc phải trả khi khoản phụ cấp đã được cam kết trong hợp đồng lao động hoặc được quy định tại thỏa ước, quy chế, chính sách mà người lao động thuộc trường hợp được hưởng.
Cụ thể như sau:
Không phải doanh nghiệp nào cũng bắt buộc phải trả phụ cấp lương cho người lao động. Việc có được nhận phụ cấp hay không phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, cũng như quy định tại hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc chính sách của công ty.
Theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động phải có nội dung về mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
Do đó, nếu phụ cấp đã được thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng hoặc thỏa thuận hợp pháp khác, người lao động có quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết. Công ty không thể tự ý cắt hoặc giảm khoản phụ cấp đã cam kết nếu không có căn cứ và không thực hiện đúng quy định về việc thay đổi thỏa thuận.
Ngoài hợp đồng lao động, phụ cấp cũng có thể được quy định trong thỏa ước lao động tập thể, quy chế tiền lương hoặc chính sách của doanh nghiệp. Khi người lao động đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, doanh nghiệp phải thực hiện việc chi trả theo chính sách đã ban hành.
Ví dụ, doanh nghiệp có thể thỏa thuận hoặc quy định các khoản như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp chuyên cần, phụ cấp ca đêm, hỗ trợ đi lại....
Tuy nhiên, cần phân biệt phụ cấp mà doanh nghiệp có nghĩa vụ trả theo thỏa thuận với các khoản hỗ trợ do doanh nghiệp tự nguyện áp dụng. Những khoản như tiền xăng xe, tiền điện thoại, tiền ăn trưa, tiền nhà ở... không phải là khoản mà pháp luật lao động bắt buộc mọi doanh nghiệp phải trả cho người lao động. Việc có chi trả hay không thường phụ thuộc vào thỏa thuận và chính sách của từng doanh nghiệp.
Như vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng bắt buộc phải trả phụ cấp lương cho người lao động. Việc có được nhận phụ cấp hay không phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, cũng như quy định tại hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc chính sách của công ty.

Có bắt buộc phải trả phụ cấp lương cho người lao động không?
Công ty cắt phụ cấp lương có cần báo trước không?
Công ty muốn cắt phải báo trước ít nhất 3 ngày làm việc và phải được người lao động đồng ý.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 phụ cấp lương là một phần của tiền lương được ghi trong hợp đồng lao động, việc cắt bỏ hoặc giảm phụ cấp chính là hành vi sửa đổi hợp đồng.
Nếu người sử dụng lao động muốn cắt phụ cấp lương hoặc các khoản bổ sung khác thì phải thông báo về việc thay đổi hợp đồng lao động trước ít nhất 3 ngày làm việc để hai bên có thể thỏa thuận về những nội dung cần sửa đổi theo Điều 33 Bộ luật Lao động 2019.
Tuy nhiên, việc báo trước mới chỉ là điều kiện cần. Nếu người lao động không đồng ý thì công ty không có quyền tự ý cắt giảm mà vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết. Chỉ khi cả hai bên đồng ý thì mới tiến hành ký phụ lục hợp đồng hoặc hợp đồng mới để điều chỉnh phụ cấp lương
Lưu ý: Nếu khoản phụ cấp chỉ quy định trong quy chế nội bộ hoặc thông báo miệng, không có trong hợp đồng thì công ty cũng có thể cắt nhưng phải thực hiện đúng quy trình: lấy ý kiến tổ chức đại diện người lao động, công bố công khai trước khi áp dụng.
Mức phụ cấp lương của người lao động là bao nhiêu?
Pháp luật không đặt ra mức phụ cấp lương cụ thể mà sẽ do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận với nhau.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH phụ cấp lương theo thỏa thuận của hai bên gồm:
- Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ;
- Các khoản phụ cấp lương gắn với quá trình làm việc và kết quả thực hiện công việc của người lao động.
Bên cạnh đó, mức lương theo công việc hoặc chức danh được quy định như sau:
- Ghi mức lương tính theo thời gian của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Lao động 2019;
- Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán thì ghi mức lương tính theo thời gian để xác định đơn giá sản phẩm hoặc lương khoán;
Ngoài ra, các khoản bổ sung khác theo thỏa thuận của hai bên như sau:
- Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương;
- Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trả thường xuyên hoặc không thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];