Quyết định giám đốc thẩm 65/2014/KDTM-GĐT ngày 25/12/2014 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA KINH TẾ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 65/2014/KDTM-GĐT NGÀY 25/12/2014 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 

Ngàỵ 25/12/2014, tại trụ sở Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao, đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hơp đồng tín dụng giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, có trụ sở tại số 02 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội do ông Lương Xuân Cau - Phó giám đốc Chi nhánh huyện Xuyên Mộc làm đại diện theo ủy quyền.

Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh Thường, Bà Nguyễn Thị Tuyết; có địa chỉ tại 336/11 tổ 11 ấp Thạnh Sơn, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NHẬN THẤY

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2011 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì thấy:

Ngày 16/10/2008, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Xuyên Mộc đã ký Hợp đồng tín dụng số 080671.T0258/HĐTD cho ông Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết vay 150.000.000 đồng, thòi hạn: 24 tháng, ngày ưả nợ cuối cùng là 16/10/2010; lãi suất 1,667%/tháng; lãi quá hạn 150% lãi trong hạn; mục đích nuôi bò và gà công nghiệp.

Tài sản bảo đảm:

Ông Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết thế chấp tài sản bảo đảm theo Họp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đât sô 080671T0258/HĐTC ngày 16/10/2008, gom:

-  Quyền sử dụng diện tích 1.136 m2 đất thửa số 268 tờ bản đồ số 10 tại xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất số T356284 do UBND huyện Xuyên Mộc cấp ngày ngày 5/9/2001 vào sổ cấp giấy chứng nhận số 02705 cho hộ ông Nguyễn Mạnh Thường).

- Quyền sử dụng diện tích đất 568 m2 đất tại thửa 806 tờ bản đồ số 10 tại xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Giây chứng nhận quyên sử dụng đất số AG 866418 do UBND huyện Xuỵên Mộc cấp ngày 5/2/2007 vào sổ cấp giấy 00295/QSDĐ 625/QĐ-UBND, bà Tuyết, ông Thường nhận chuyển nhượng ngày 23/4/2007 và tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 nền gạch, mái tôn có diện tích 100 m2). Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại UBND phường Phước Tân ngày 16/10/2008 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyên sử dụng đât huyện Xuyên Mộc ngày 27/10/2008.

Đen hạn ông Thường và bà Tuyết không thanh toán, đề nghị Tòa án buộc ông Thường và bà Tuyết phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi. Tạm tính đến ngày 28/02/2011 tiền gốc: 150.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 47.130.417 đồng; Lãi vay quá hạn: 8.756.458 đồng; Tổng cộng: 205.886.875 đồng. Ngoài ra ông Thường và bà Tuyết còn phải thanh toán phần lãi phát sinh thêm tính từ 01/3/2011 đến khi trả hết nợ. Phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường họp ông Thường và bà Tuyết không thanh toán đủ gốc và lãi.

Bị đon trình bày:

Ông Nguyễn Mạnh Thường, bà Nguyễn Thị Tuyết: Xác nhận vào ngày 16/10/2008 có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Xuyên Mộc số tiền gốc: 150.000.000 đồng; lãi suất 1,667%/ tháng; lãi quá hạn 150% lãi trong hạn, số nợ gốc, nợ lãi còn lại; tài sản bảo đảm như Ngân hàng trình bày.

Tại phiên hòa giải ngày 19/4/2011, nguyên đơn, bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Ngày 27/4/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2011/QĐST-KDTM với nội dung như sau:

“1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn:....

Bị đơn:...

2. Sự thỏa thuận của các đưomg sự cụ thể như sau:

Ông Nguyễn Mạnh Thường, bà Nguyễn Thị Tuyết xác nhận còn nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền là 209.716.875 đồng theo Hợp đồng tín dụng 080671T0258/HĐTD ngày 16/10/2008 được ký kết giữa:

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, do Chỉ nhánh huyện Xuyên Mộc đại diện và ông Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết. Trong đỏ:

+ Nợ gốc: 150.000.000 đồng

+ Lãi trong hạn và quá hạn: 59.716.875 đồng (tính đến 19/4/2011)

- Ông Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết cam kết đến ngày 19/5/2011 sẽ trả toàn bộ số nợ 209.716.875' đông (lãi tính đến ngày 19/4/2011) và tiền lãi phát sinh theo Họp đồng'tín dụng sổ 080671T0258/HĐTD ngày 16/10/2008 cho đến khi ngân hàng thu hồi hết nợ.

- Nếu quá thời hạn nêu trên mà ông Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triến nông thôn Việt Nam, do Chi nhánh huyện Xuyên Mộc đại diện có quyền yêu câu bán đâu giá tài sản thế chấp gồm:

+ Quyền sử dụng đất có diện tích 1.136 m2 đất thửa số 286 tờ bản đồ sổ 10 tại xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thuộc quyền sử dụng của ông Nguyên Mạnh Thường được UBND huyện Xuyên Mộc câp Giây chứng nhận quyền sử dụng đất sổ AG 866418 ngày 05/9/2001.

+ Quyền sử dụng đất có diện tích đất 568 m2 đất tại thửa 806 tờ bản đồ sổ 10 tại xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thuộc quyền sử dụng của ỏng Nguyễn Mạnh Thường và bà Nguyễn Thị Tuyết được UBND huyện Xuyên Mộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so T356284 ngày 05/02/2007 và tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 nền gạch, mái tôn có diện tích 100 m2.

Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ngày 16/10/2008. Đăng ký giao dịch bảo đảm vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 27/10/2008 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Phòng tài nguyên môi trường huyện Xuyên Mộc.

Đến thời hạn thanh toán nợ theo cam kết mà ông Thường và bà Tuyết không:' thanh toán thì phải tiếp tục trả vốn và lãi theo các họp đồng tín dụng trên cho đi khi thanh toán hết số nợ”.

Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận về án phí.

Ngày 07/4/2013, bà Nguyễn Thị Tuyết có đơn khiếu nại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 10/2014/KDTM-KN ngày 25/4/2014 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2011/QDST-KDTM ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Tại phiên hòa giải ngày 19/4/2011, các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2011/QĐST-KDTM ngày 27/4/2011 nêu trên. Tuy nhiên, việc Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã có sai sót như sau:

Đối với việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 1.136 m2 đất (bao gồm 300 m2 đất thổ cư và 836 m2 đất lâm nghiệp) tại thửa đất số 268, tờ bản đồ số 10, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Theo Giây chứng nhận quyền sử dụng đất số T356284 ngày 05/9/2001 thì thửa đât này được ƯBND huyện Xuyên Mộc cấp cho (Hộ) ông Nguyễn Mạnh Thường. Khi giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã không lây lời khai của các đương sự hoặc sử dụng các biện pháp thu thập chứng cứ khác đê làm rõ những ai có quyền sử dụng đất hợp pháp? Nguồn gốc tạo lập đất này là của những ai? Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đât, trong hộ ông Nguyễn Mạnh Thường có những ai được hưởng quyền lợi đối với đất này theo quy định của pháp luật và họ có đông ý đôi với việc ông Thường, bà Tuyêt ký họp đồng thế chấp để vay tiền Ngân hàng không?

Hơn nữa, sau khi có Quyết đinh công nhận sự thỏa thuận nêu trên, bà Tuyết có đơn khiêu nại cho răng Bà không tham gia, không ký vào hô sơ vay vôn Ngân hàng (vì tại then điểm ký kết các họp đồng tín dụng, họp đồng thế châp Bà đi làm thuê ở Đồng Nai); Bà bị ép buộc ký vào biên bản hòa giải tại Tòa án. Do đó, khi giải quyết lại vụ án Tòa án cần làm rõ các vấn đề nêu trên đê đảm bảo việc giải quyêt vụ án được chính xác, đúng pháp luật.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011),

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2011/QĐST- KDTM ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;


94
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Quyết định giám đốc thẩm 65/2014/KDTM-GĐT ngày 25/12/2014 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

      Số hiệu:65/2014/KDTM-GĐT
      Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
      Lĩnh vực:Kinh tế
      Ngày ban hành:25/12/2014
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về