Bản án 98/2019/HNGĐ-ST ngày 20/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 98/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn - Tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2019/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2019 về việc tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2019/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1/Nguyên đơn: Anh Trần Văn Bồ, sinh năm 1972.

Trú quán: Đồng Con1, Tân Lập, Lục Ngạn, Bắc Giang ( Có mặt).

2/Bị đơn: Chị Bàn Thị Lâm, sinh năm 1973.

Trú quán: Đồng Con1, Tân Lập, Lục Ngạn, Bắc Giang (Đã mất tích).

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, biên bản ghi lời khai ngày 20/5/2016 và những tài liệu tiếp theo nguyên đơn anh Trần Văn Bồ trình bày: Anh và chị Bàn Thị Lâm được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1989, nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới chị Lâm về sống chung cùng anh tại Đồng Con 1, xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, tình cảm hòa thuận hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Khoảng tháng 05 năm 2015 chị Bàn Thị Lâm đi làm, rồi đi đâu không về nhà nữa cũng không biết, anh Bồ đã đi tìm kiếm và về gia đình bên ngoại nhưng cũng không thấy chị Lâm, gia đình bên ngoại cũng không biết chị Lâm đi đâu làm gì.

Kể từ tháng 5/2015 đến nay anh Bồ luôn tìm kiếm nghe ngóng tin tức nhưng cũng không biết chị Bàn Thị Lâm ở đâu. Vì vậy anh Bồ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giải quyết tuyên bố chị Bàn Thị Lâm, sinh năm 1973 nơi cư trú cuối cùng: Đồng Con 1, xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định số 04/2019/QĐST - VDS, ngày 20 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã tuyên bố chị Bàn Thị Lâm, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: Đồng Con1, xã Tân lập, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mất tích.

Nay anh Trần Văn Bồ đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Bàn Thị Lâm, nhưng không đăng ký kết hôn đề nghị xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật.

Con chung: Anh Trần Văn Bồ và chị Bàn Thị Lâm sinh được 05 người con chung:

1/ Trần Thị Tít, sinh ngày 06/8/1991.

2/ Trần Thị Phượng, sinh ngày 13/12/1994.

3/ Trần Thị Oanh, sinh ngày 13/8/1997 (cháu Tít, Phượng, Oanh đều đã xây dựng gia đình).

4/ Trần Thị Vui, sinh ngày 29/10/2002.

5/ Trần Văn Quang, sinh năm 2000 (không nhớ ngày tháng).

Các con của anh Bồ chị Lâm đều đã trưởng thành, anh Bồ không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Tài sản riêng, chung; Công nợ chung: Không yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa đã có quan điểm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự, về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Những người tham gia tố tụng đã thực hiện các qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Bồ.

- Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn đối với chị Bàn Thị Lâm.

- Con chung: Các con của anh Trần Văn Bồ đều đã trưởng thành không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Tài sản: Tài sản chung, riêng, đất ruộng nông nghiệp đều không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 6; 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Trần Văn Bồ phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

[2] Về nội dung: Anh Trần Văn Bồ và chị Bàn Thị Lâm được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1989. Sau ngày cưới chị Lâm về sống chung cùng anh Bồ tại thôn Đồng Con 1, xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, tình cảm hòa thuận phúc và sinh được 05 người con, nhưng suốt từ thời gian đó cho đến nay anh Bồ và chị Lâm không đăng ký kết hôn là bất hợp pháp, vi phạm Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân gia đình 2014. Tháng 05 năm 2015 chị Bàn Thị Lâm đi làm, rồi sau đó chị Lâm không về nhà nữa, anh Bồ đã đi tìm kiếm và về gia đình bên ngoại nhưng cũng không thấy chị Lâm, gia đình bên ngoại cũng không biết chị Lâm đi đâu làm gì.

Kể từ tháng 5/2015 đến nay anh Bồ luôn tìm kiếm nghe ngóng tin tức nhưng cũng không biết chị Bàn Thị Lâm ở đâu. Anh Bồ đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giải quyết về việc tuyên bố chị Bàn Thị Lâm, sinh năm 1973 nơi cư trú cuối cùng: Đồng Con 1, xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định số 04/2019/QĐST - VDS, ngày 20 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã tuyên bố chị Bàn Thị Lâm, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: Đồng Con 1, xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mất tích.

Tại phiên tòa anh Trần Văn Bồ đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Bàn Thị Lâm, nhưng không đăng ký kết hôn đề nghị xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện đề nghị của anh Trần Văn Bồ là có căn cứ chấp nhận phù hợp với khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Xử:

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn Bồ và chị Bàn Thị Lâm.

Con chung: Anh Trần Văn Bồ và chị Bàn Thị Lâm sinh được 05 người con: Trần Thị Tít, sinh ngày 06/8/1991, Trần Thị Phượng, sinh ngày 13/12/1994, Trần Thị Oanh, sinh ngày 13/8/1997 (cháu Tít, Phượng, Oanh đều đã xây dựng gia đình), Trần Thị Vui, sinh ngày 29/10/2002, Trần Văn Quang, sinh năm 2000.

Các con của anh Bồ chị Lâm đều đã trưởng thành, quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa anh Bồ không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

[3] Tài sản: Tài sản riêng, chung; công nợ chung: Đều không yêu cầu đề nghị xem xét giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Án phí: Anh Trần Văn Bồ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Xác nhận anh Trần Văn Bồ đã nộp 300.000đ tiền dự phí theo biên lai thu số AA/2010/0001011, ngày 28/10/2019, tại Chi cục THADS huyện Lục Ngạn, khoản tiền này được khấu trừ vào tiền án phí, nên anh Bồ đã nộp đủ không phải nộp nữa.

[5] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 245 và Điều 252 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Điều 6 và Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

1 .Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Bồ.

2. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa: Anh Trần Văn Bồ và chị Bàn Thị Lâm.

3. Con chung: Chị Trần Thị Tít, sinh ngày 06/8/1991, Trần Thị Phượng, sinh ngày 13/12/1994, Trần Thị Oanh, sinh ngày 13/8/1997, Trần Thị Vui, sinh ngày 29/10/2002 và anh Trần Văn Quang, sinh năm 2000 đều đã trưởng thành không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết.

6. Án phí: Anh Trần Văn Bồ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Xác nhận anh Trần Văn Bồ đã nộp 300.000đ tiền dự phí theo biên lai thu số AA/2010/0001011, ngày 28/10/2019, tại Chi cục THADS huyện Lục Ngạn, khoản tiền này được khấu trừ vào tiền án phí, nên anh Bồ đã nộp đủ không phải nộp nữa.

7. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 98/2019/HNGĐ-ST ngày 20/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:98/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về