NLĐ tự do không thuộc khu vực đô thị hay nông thôn được xác định là khách hàng tài chính vi mô khi thuộc đối tượng nào?
Theo Thông tư 54/2025/TT-NHNN, người lao động khác không thuộc các trường hợp quy định tại điểm b(i), b(ii) khoản 4 Điều 3 Thông tư 54/2025/TT-NHNN được xác định là cá nhân có thu nhập thấp nếu có mức thu nhập tương ứng mức thu nhập bình quân của đối tượng khách hàng quy định tại hai điểm này.
Tại điểm b(iii) khoản 4 Điều 3 Thông tư 54/2025/TT-NHNN quy định như sau:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
4. Khách hàng tài chính vi mô bao gồm các đối tượng sau:
a) Hộ nghèo, hộ cận nghèo, cá nhân thuộc hộ nghèo, cá nhân thuộc hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật;
b) Cá nhân có thu nhập thấp, bao gồm:
(i) Công chức; viên chức; người được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động ở khu vực đô thị có mức thu nhập bình quân trong 12 tháng gần nhất trước thời điểm đề nghị vay vốn tối đa 09 triệu đồng/tháng;
(ii) Công chức; viên chức; người được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân trong 12 tháng gần nhất trước thời điểm đề nghị vay vốn tối đa 07 triệu đồng/tháng;
(iii) Người lao động khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm b(i), b(ii) khoản này có mức thu nhập tương ứng mức thu nhập bình quân của đối tượng khách hàng quy định tại điểm b(i) và b(ii) khoản này;
c) Hộ gia đình có thu nhập thấp là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân trong 12 tháng gần nhất trước thời điểm đề nghị vay vốn của các cá nhân thuộc hộ tương ứng mức thu nhập bình quân của cá nhân có thu nhập thấp theo từng khu vực quy định tại điểm b(i) và b(ii) khoản này;
d) Doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật.
...
Như vậy, người lao động khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm b(i), b(ii) khoản 4 Điều 3 Thông tư 54/2025/TT-NHNN được xác định là cá nhân có thu nhập thấp thuộc đối tượng khách hàng tài chính vi mô khi có mức thu nhập tương ứng mức thu nhập bình quân của đối tượng khách hàng quy định tại điểm b(i) và b(ii) khoản này.

NLĐ tự do không thuộc khu vực đô thị hay nông thôn được xác định là khách hàng tài chính vi mô khi thuộc đối tượng nào? (Hình từ Internet)
Tiêu chí xác định người có thu nhập thấp là gì?
Theo điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 3 Nghị định 07/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 30/2025/NĐ-CP quy định về tiêu chí xác định người lao động có thu nhập thấp thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
Cụ thể, người lao động có thu nhập thấp là người lao động thuộc hộ gia đình (không bao gồm người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo):
- Khu vực nông thôn: có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.250.000 đồng trở xuống.
- Khu vực thành thị: có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 3.000.000 đồng trở xuống.
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình, tiêu chí xác định người lao động có thu nhập thấp thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 quy định tại khoản 2 Điều này là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025.
Bên cạnh đó, Điều 2 Nghị định 351/2025/NĐ-CP đã quy định về chuẩn nghèo đa chiều quốc gia năm 2026 như sau:
- Tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 theo quy định tại Điều 3 Nghị định 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 (sau đây gọi là Nghị định 07/2021/NĐ-CP) từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026.
- Chuẩn nghèo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 351/2025/NĐ-CP là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác năm 2026.
Điều kiện về thu nhập đối với người có thu nhập thấp được hỗ trợ về nhà ở xã hội ra sao?
Tại khoản 1 Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện về thu nhập đối với người có thu nhập thấp ở khu vực đô thị được hỗ trợ về nhà ở xã hội như sau:
(1) Trường hợp người có thu nhập thấp đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người có thu nhập thấp đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(2) Trường hợp người có thu nhập thấp đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(3) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại mục (1) và mục (2) là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
(4) Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bàn, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];