Một số điểm mới của Dự thảo Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2024 từ 01/3/2027?
Bộ Nội vụ đã công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (sau đây gọi là dự thảo Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2024).
Tải về >> Dự thảo Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2024
Dưới đây là một số điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi từ 1/3/2027 dự kiến, cụ thể như sau:
(1) Đóng BHXH lẻ từ 1 tháng được tính 0,25 năm
Cụ thể, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 5 Luật Bảo hểm xã hội năm 2024 theo hướng điều chỉnh lại việc làm tròn thời gian đóng bảo hiểm xã hội trong trường hợp khi tính mức hưởng có tháng lẻ, cụ thể: “thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ từ 01 tháng đến 03 tháng được tính là một phần tư (0,25) năm, từ 04 tháng đến 06 tháng được tính là nửa (0,5) năm; từ 07 tháng đến 09 tháng được tính là ba phần tư (0,75) năm, từ 10 tháng đến 11 tháng được tính là một (1) năm”.
Trong khi đó, theo quy định hiện hành quy định thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để xác định điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng tính theo năm, một năm phải tính đủ 12 tháng. Trường hợp tính mức hưởng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.
Lý do, (1) bảo đảm công bằng hơn về quyền lợi hưởng (ví dụ: theo quy định trước đây thời gian đóng có 1 tháng lẻ hay 6 tháng lẻ thì đều được làm tròn là nửa năm; theo dự thảo Luật thì người có 5 tháng lẻ sẽ được tính mức hưởng cao hơn người có 1 tháng lẻ); (2) phù hợp trong mối tương quan với quy định tại khoản 4 Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (tỷ lệ hưởng lương hưu tính lẻ theo mức nhỏ nhất là 0,25%).
(2) Bỏ quy định giấy ủy quyền nhận lương hưu chỉ có hiệu lực tối đa 12 tháng
Theo Điểm d khoản 3 Điều 10 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định việc ủy quyền cho người khác thực hiện bảo hiểm xã hội có hiệu lực tối đa 12 tháng. Theo phản ánh của cơ quan bảo hiểm xã hội và một số địa phương thì nội dung này phát sinh một số bất cập trong việc làm giấy ủy quyền tiếp khi hết hiệu lực 12 tháng đặc biệt là đối với người sức khỏe yếu, nhiều trường hợp không thể làm tiếp giấy ủy quyền và cũng làm phát sinh chi phí. Bên cạnh đó, quy định này cũng chưa hoàn toàn như quy định pháp luật về dân sự (không giới hạn thời gian ủy quyền) và đề nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ thời gian có hiệu lực tối đa của việc ủy quyền. Tuy nhiên, một số địa phương cho rằng nên giữ như quy định hiện hành để thuận lợi trong công tác quản lý đối tượng thụ hưởng.
Dự thảo Luật đề xuất 02 phương án:
- Phương án 1 là bỏ hiệu lực tối đa của việc ủy quyền, việc thực hiện ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.
Với phương án này, việc quản lý đối tượng thụ hưởng phải được cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện thông qua việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và trách nhiệm phối hợp xác minh thông tin đủ điều kiện thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của người thụ hưởng;
- Phương án 2 là giữ như quy định hiện hành.
(3) Người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội sẽ không được tham gia BHXH tự nguyện
Cụ thể, điểm a khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được sửa đổi quy định người từ đủ 15 tuổi trở lên chỉ được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nếu không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và không phải là người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội.
(4) Hỗ trợ tiền đóng BHXH bắt buộc cho chủ hộ kinh doanh và một số nhóm đối tượng khác
Khoản 5 Điều 6 và khoản 9 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được sửa đổi, bổ sung bởi dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi là bổ sung chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH đối với một số người tham gia BHXH bắt buộc.
Theo đó, Nhà nước không chỉ hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mà còn hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc các đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Các nhóm đối tượng này gồm:
- Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Vợ hoặc chồng đi theo thành viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;
- Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh;
Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước hoặc phần vốn của doanh nghiệp không hưởng tiền lương.
Đồng thời, dự thảo bổ sung khoản 9 Điều 33 giao Chính phủ quy định cụ thể mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời gian thực hiện chính sách.
(5) Doanh nghiệp không có công đoàn cơ sở được tự quyết thời gian nghỉ dưỡng sức của người lao động
Dự thảo Luật đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 46 và khoản 2 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 liên quan đến chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau và sau thai sản.
Theo đó, thời gian nghỉ dưỡng sức vẫn do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì người sử dụng lao động quyết định trên cơ sở đề nghị của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở.
Dự thảo bổ sung thêm trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở hoặc thuộc trường hợp không tổ chức công đoàn cơ sở theo quy định thì người sử dụng lao động được quyền quyết định thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe của người lao động.
(6) Thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai về bảo hiểm xã hội
Tại điểm b khoản 3 Điều 130 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định: người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để phù hợp với vị trí hiện nay của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và tương thích với nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Khiếu nại, dự thảo Luật sửa đổi theo hướng: người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật; theo đó, dự thảo Luật đã bỏ đoạn thứ hai, sửa đổi nội dung tại đoạn thứ nhất điểm b khoản 3 và sửa đổi nội dung điểm b khoản 4 Điều 130 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
(7) Sửa quy định về chậm đóng bảo hiểm xã hội
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 38 và điểm a khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 theo hướng một trong các trường hợp chậm đóng bảo hiểm xã hội là “Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn kê khai và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ ” và trốn đóng bảo hiểm xã hội là “Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn kê khai và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ mà người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc” để phù hợp với việc giao Chính phủ quy định về hồ sơ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội.
(8) Sổ BHXH giấy chỉ cấp khi có yêu cầu của NLĐ
Khoản 2 Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định: Sổ bảo hiểm xã hội được cấp bằng bản điện tử, bản giấy và có giá trị pháp lý như nhau. Chậm nhất là ngày 01 tháng 01 năm 2026, thực hiện cấp sổ bảo hiểm xã hội bằng bản điện tử; sổ bảo hiểm xã hội bằng bản giấy được cấp khi người tham gia bảo hiểm xã hội yêu cầu.
Theo đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 25 theo hướng: "Sổ bảo hiểm xã hội được cấp bằng bản điện tử. Sổ bảo hiểm xã hội bằng bản giấy được cấp khi người tham gia bảo hiểm xã hội yêu cầu và có giá trị pháp lý như bản điện tử."
.....
Xem chi tiết Dự thảo Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2024: Tại đây

Một số điểm mới của Dự thảo Luật sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2024 từ 01/3/2027? (Hình từ Internet)
BHXH gồm những loại hình nào theo Luật BHXH 2024?
Theo Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Bảo hiểm xã hội gồm 5 loại hình sau: (1) Trợ cấp hưu trí xã hội; (2) BHXH bắt buộc; (3) BHXH tự nguyện: (4) Bảo hiểm thất nghiệp; (5) Bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Nhà nước có chính sách gì đối với bảo hiểm xã hội?
Căn cứ tại Điều 6 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội như sau:
- Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng bao gồm trợ cấp hưu trí xã hội, bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm hưu trí bổ sung để hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
- Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; có chính sách hỗ trợ về tín dụng cho người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà bị mất việc làm.
- Ngân sách nhà nước bảo đảm các chế độ của trợ cấp hưu trí xã hội và một số chế độ khác theo quy định của Luật này.
- Bảo hộ, bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội.
- Hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
- Khuyến khích các địa phương tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, kết hợp huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ thêm tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và hỗ trợ thêm cho người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
- Hoàn thiện pháp luật và chính sách về bảo hiểm xã hội; phát triển hệ thống tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và hiệu quả; ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, giao dịch điện tử và yêu cầu quản lý về bảo hiểm xã hội.
- Khuyến khích tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];