Phải đóng bảo hiểm bao lâu thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp?
Người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian quy định đối với từng loại hợp đồng và đáp ứng được các điều kiện khác theo quy định thì mới được hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Tại Điều 38 Luật Việc làm 2025 có quy định điều kiện hưởng như sau:
Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm 2025 đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
- Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.

Khi nào người lao động bị thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp? (Hình từ Internet)
Nhận tiền trợ cấp thất nghiệp trong một lần được không?
Bạn chỉ có thể nhận tiền trợ cấp thất nghiệp hàng tháng mà không thể nhận một lần do hằng tháng, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp phải thông báo về quá trình tìm kiếm việc làm, nếu không khai báo thì sẽ bị tạm dừng hưởng.
Tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 374/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người lao động không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định, tổ chức dịch vụ việc làm công nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp trình Giám đốc Sở Nội vụ quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động.
Quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tổ chức dịch vụ việc làm công gửi 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực hiện tạm dừng chi trả trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động; 01 bản đến người lao động. Trường hợp người lao động hồ sơ nộp qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia thì Quyết định về việc hưởng tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp gửi 01 bản đến người lao động, 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo Mẫu số 15 ban hành kèm theo Nghị định này.
Đồng thời, tại Điều 40 Luật Việc làm 2025 có quy định như sau:
Trách nhiệm thông báo về việc tìm kiếm việc làm của người lao động
1. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng, người lao động phải thông báo về việc tìm kiếm việc làm cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Theo đó, Bạn chỉ có thể nhận tiền trợ cấp thất nghiệp hàng tháng mà không thể nhận một lần do hằng tháng, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp phải thông báo về quá trình tìm kiếm việc làm, nếu không khai báo thì sẽ bị tạm dừng hưởng.
Khi nào người lao động bị thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp?
Tại Điều 36 Nghị định 374/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
Trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội
...
6. Dừng chi trả tiền hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp để duy trì việc làm cho người lao động khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Thực hiện việc thu hồi tiền hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp do chi trả không đúng theo quyết định hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp hoặc chi trả không đúng thời hạn quy định hoặc thu bảo hiểm thất nghiệp không đúng dẫn đến việc giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp sai quy định.
...
Theo đó, trong trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật hoặc giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan ban hành quyết định về việc hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải ban hành quyết định thu hồi số tiền đã chi sai.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];