Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được thành lập như thế nào?

Phạm Đại Phước 259 lượt xem
14:00 | 13/02/2025
Thủ tục thành lập Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh ra sao, tiêu chuẩn và chế độ làm việc của trọng tài viên lao động thế nào? Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hay không?
Nội dung chính
  1. Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được thành lập như thế nào?
  2. Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hay không?
  3. Có phải tất cả các tranh chấp lao động cá nhân đều phải được thông qua thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết không?

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được thành lập như thế nào?

Theo Điều 185 Bộ luật Lao động 2019 quy định về việc thành lập Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh như sau:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng trọng tài lao động, bổ nhiệm Chủ tịch, thư ký và các trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là 05 năm.

- Số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, cụ thể như sau:

+ Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử, trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

+ Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

+ Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.

- Tiêu chuẩn và chế độ làm việc của trọng tài viên lao động như sau:

+ Trọng tài viên lao động là người hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động, có uy tín và công tâm;

+ Khi đề cử trọng tài viên lao động, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại diện của người sử dụng lao động có thể cử người của cơ quan, tổ chức mình hoặc cử người khác đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đối với trọng tài viên lao động theo quy định;

+ Thư ký Hội đồng trọng tài lao động thực hiện nhiệm vụ thường trực của Hội đồng trọng tài lao động. Trọng tài viên lao động làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

- Khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại các điều 189, 193 và 197 Bộ luật Lao động 2019, Hội đồng trọng tài lao động quyết định thành lập Ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp như sau:

+ Đại diện mỗi bên tranh chấp chọn 01 trọng tài viên trong số danh sách trọng tài viên lao động;

+ Trọng tài viên lao động do các bên lựa chọn theo quy định tại điểm a khoản này thống nhất lựa chọn 01 trọng tài viên lao động khác làm Trưởng Ban trọng tài lao động;

+ Trường hợp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp lao động thì Ban trọng tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được lựa chọn.

- Ban trọng tài lao động làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 4 Điều 185 Bộ luật Lao động 2019.

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được thành lập như thế nào?

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được thành lập như thế nào? (Hình từ Internet)

Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hay không?

Căn cứ tại Điều 187 Bộ luật Lao động 2019 quy định:

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1. Hòa giải viên lao động;
2. Hội đồng trọng tài lao động;
3. Tòa án nhân dân.

Theo đó, hội đồng trọng tài lao động là một trong những cơ quan tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Có phải tất cả các tranh chấp lao động cá nhân đều phải được thông qua thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết không?

Căn cứ tại Điều 188 Bộ luật Lao động 2019 quy định thì có 6 trường hợp tranh chấp lao động không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Bao gồm các tranh chấp lao động sau đây:

- Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

- Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động.

- Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động.

- Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

- Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Logo Thư viện Pháp luật
Phạm Đại Phước Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Tranh chấp lao động Xem thêm

Lao Động Tiền Lương
Giải quyết tranh chấp lao động mới nhất 2026: Thủ tục, hòa giải, khởi kiện và án phí ra sao?

Giải quyết tranh chấp lao động theo quy định mới nhất năm 2026 được thực hiện như thế nào? Có mấy loại tranh chấp lao động, trường hợp nào bắt buộc phải hòa giải trước khi khởi kiện, trường hợp nào được khởi kiện ngay? Thẩm quyền giải quyết thuộc cơ quan nào, thời hiệu khởi kiện và án phí được quy định ra sao?

Bài viết mới nhất

Lao Động Tiền Lương
Cán bộ công chức đang công tác tại xã loại I mà sắp tới được công nhận là xã đặc biệt khó khăn thì có được hưởng chế độ 10 tháng lương sau khi xã đó được công nhận không?

Đang công tác tại xã loại I mà sắp tới được công nhận là xã đặc biệt khó khăn thì cán bộ công chức đang công tác ở xã có được hưởng chế độ 10 tháng lương khi được công nhận xã đặc biệt khó khăn hay không?