Quyết định giám đốc thẩm 61/2014/DS-GĐT ngày 27/02/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 61/2014/DS-GĐT NGÀY 27/02/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên toà ngày 27/02/2014 tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. Do có kháng nghị số 155//2013/KN-DS ngày 24/12/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thấm số 471/2012//DSPT ngày 29/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Phạm Thị Hấn, sinh năm 1925; trú tại 44/1 Q122, ấp Tiền, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Phan Văn Danh, sinh năm 1969; trú tại 44/1 QL22, ấp Tiền, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2011 và các lòi khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Hấn (do ông Phan Văn Thanh đại diện) trình bày:

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00312/15/QSDĐ ngày 10/4/2007 của ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà Phạm Thị Hấn thì bà Hấn được quyền sử dụng 3.873m2 đất, trong đó trên diện tích có 1.854,2m2 đất bà Hấn có cất căn nhà cấp 4 (nhà số 44/1/QL22) thuộc thửa 30 tờ bản đồ số 39 tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi.

Năm 2010 bà Hấn đồng ý tặng cho ông Phan Văn Danh (con bà Hấn) một nhẩn diện tích thửa đất trên đất có căn nhà trên.

Ngày 05/7/2010, bà Hấn và ông Danh đến ủy ban nhân dân xã Tân Thông Hội huyện Củ Chi để làm hợp đồng tặng cho. Hợp đồng tặng cho đã được UBND xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi chứng thực số 612 quyển sổ 02TP/CC-SCT/HĐGD ngày 05/7/2010. Bà Hấn chỉ đồng ý tặng cho ông Danh 1186,4m2 đất, trên đất có căn nhà trên. Nhưng ủy ban nhân dân xã Tân Thông Hội đã nhầm lẫn chứng thực là bà Hấn đồng ý tặng cho ông Danh 1.854,2m2 đất, trên đất có nhà là không đúng theo ý chí của bà Hấn. Sau này, bà Hấn mới biết ủy ban nhân dân xã Tân Thông Hội đã chứng thực không đúng theo ý chí của bà Hấn nên bà Hấn đã có đcm khiếu nại đến úy ban đề nghị giải quyết, nhưng chưa được giải quyết. Nay bà Phạm Thị Plan khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ một phần họp đồng tặng cho nói trên; cụ thể bà Hấn chỉ đồng ý tặng cho ông Danh 1186,4m2trên đất có nhà, phần diện tích còn lại 667,8m2 thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Hấn và bà Hấn sẽ liên hệ với ủy ban nhân dân điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2007.

Sau khi, bà Hấn làm hợp đồng tặng cho đất thì ông Danh đã đăng ký quyền sử dụng đất và tiến hàng thủ tục tách thửa và ngày 31/8/2010 đã được ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp GCNQSDĐ số C1100852/QSDĐ với diện tích 1,854,2m2 đất, trên đất có căn nhà số 44/1 QL22 theo Họp đồng tặng cho.

Bị đơn ông Phan Văn Danh (do ông nguyên Thanh Liêm đại diên) trình bày:

Ngày 05/7/2010 bà Hấn có tặng cho con là ông Phan Văn Danh quyền sử dụng đất và căn nhà số 44/1 QL22 ấp Tiền, xã Tân thông Hội, huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, được xây dựng trên khuôn viên diện tích 1.854,2m2 đất thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 39. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Hấn và ông Danh, hai bên đã ký tên trước mặt cán bộ ủy ban nhân dân xã Tân thông Hội và đã được ủy ban nhân dân xã chứng thực hợp pháp. Việc bà Hấn tặng cho ông Danh 1.854,2m2 đất, trên đất có nhà là đúng theo ý chí của bà Hấn và đúng theo quy định của pháp luật. Nay bà Hấn khai chỉ đồng ý tặng cho ông Danh 1186,4m2 đất là không đúng. Đe nghị bác yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn.

Với nội dung trên,

Tại bản án số 23/2012/DSST ngày 16/01/2012 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định.

- Tuyên bố, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 1.854,2m2 trong đó có 232,6m2 đất ở thuộc thửa số 30 tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh đã được Ưỷ ban nhân dân xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh chứng thực số 612 quyển số 02TP/CC-SCT/HDGD ngày 05/7/2010 giữa bà Phạm Thị Hấn và ông PhanVăn Danh vô hiệu một phần đối với diện tích 667,8m2 đất thuộc một phần thửa đất số 30 tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

- Buộc ông Phan Văn Danh trả lại cho bà Phạm Thị Hấn diện tích đất 667,8m2 thuộc một phần thửa đất sổ 30 tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi theo bản đồ hiện trạng vị trí đo vẽ ngày 05/3/2011 của Công ty TNHH Đo đạc XD-TM Hưng Thịnh

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết địnhvề án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/01/2012 ông Phan Văn Danh (do ông Nguyễn Thanh Liêm đại diện) kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Đe nghị sửa bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 471/2012//DSPT ngày 29/06/2012 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Sửa bản án sơ thẩm.

- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn Danh có ông Nguyễn Thanh Liêm đại diện.

- Không chấp nhận yêu càu khởi kiện của bà Phạm Thị Hấn về việc: Bà Hấn yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Hấn và ông Phan Văn Danh (đất thuộc thửa 30 tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi) đã được UBND xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi chứng thực số 612 quyển số 02 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 05/7/2010.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Phạm Thị Hấn có đơn yêu cầu xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 155//2013/KN-DS ngày 24/12/2013 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 471/2012//DSPT ngày 29/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, với nhận định:

- Trước khi làm thủ tục tặng cho đất Phan Văn Danh thì bà Hấn đã cho 3 người con là: ông Phan Văn Thanh 606,8m2; ông Phan Văn Muôn khoảng 760,4m2, Phan Văn Thành 651,6m2, diện tích còn lại của thửa đất nêu trên là 1854,2m2 là một phần trong thửa 30, tờ bản đồ số 39. Nhưng khi chứng thực hợp đồng tặng cho ngày 05/7/2010, cán bộ Tư pháp xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi chưa làm thủ tục xác nhận các thông tin về thửa đất của cán bộ địa chính xã mà đã chứng thực hợp đồng tặng cho giữa bà Hấn với ông Danh là vi phạm khoản 3, mục II Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP- BTNMT của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn việc công chứng chứng thực hợp đồng văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất.

- Theo giấy cho đất các con của bà Hấn đề ngày 26/3/2010, có ông Nguyễn Văn Hai, trưởng ấp xác nhận thì thể hiện bà Hấn cho Phan Văn Danh 1.186,4m2, còn lại 667,8nT bà để lại cho con gái là Phan Thị Cói đúng như trình bày của bà trong các lời khai, đơn đề nghị và tại phiên toà sơ thấm, phúc thẩm.

- Mặt khác, tại Điều 1 của họp đồng tặng cho ghi “Tặng cho quyền sử dụng đất của bên A đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 39 theo giấy chứng nhận số H00312/15 cấp ngày 10/4/2007” là không đúng thực tế tình hình diễn biến việc sử dụng thửa đất.

Toà án cấp sơ thẩm xử vô hiệu một phần họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích 667,8m2 thuộc một phần thửa số đất số 30, tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi; buộc ông Phan Văn Danh trả lại cho bà Phạm Thị Hấn diện tích đất 667,8m2 là có căn cứ.

Toà án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào nội dung họp đồng có chứng thực để xác định giá trị pháp lý của họp đồng, mà không đánh giá rõ những vi phạm về trình tự thủ tục của cán bộ tư pháp xã trong khi xác nhận hợp đồng tặng cho như phân tích ở trên nên chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn Danh, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hấn là chưa thoả đáng.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tôi cao, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng.

XÉT THẤY

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00312/15/QSDĐ ngày 10/4/2007 của ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà Phạm Thị Hấn thi bà Hấn được quyền sử dụng 3.873m2 đất.

Ngày 05/7/2010 bà Hấn cùng ông Danh đến ủy ban nhân dân xã để làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Theo bà Hấn thì bà chỉ đông ỷ cho con là ông Phan Văn Danh căn nhà số 44/1 QL22 nằm trên diện tích đất 1.186,4m2 thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 39, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi. Phần đất còn lại 667,8m2 (năm 2000 đã xây tường bao cao Olm, phía trên rào lười B40 ngăn cách) thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi thuộc quyền sử dụng của bà và bà sẽ làm nhà để ở và sau này cho con gái là Phan Thị Cói.

Ông Phan Văn Danh cho rằng họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Hấn với ông Danh đã được úy ban nhân dân xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi chứng thực ngày 05/7/2010 là họp pháp, hai bên đã ký tên trước mặt cán bộ Uỷ ban nhân dân xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi. Vì vậy không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Hấn.

Xét thấy, theo họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/7/2010 thì thể hiện bà Hấn tặng cho ông Danh 1.854,2m2 đất. Tuy nhiên bà Hấn cho rằng: do bà không biết đọc và không biết viết và ông Danh cũng không nói rõ cho bà biết diện tích đất tặng cho ghi trong hợp đồng, nên bà đã lăn tay vào họp đồng tặng cho anh Phan Văn Danh hết diện tích còn lại là 1.854,2m2, đến khi anh Danh làm xong thủ tục, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà mới biết có sự nhầm lẫn. Nay bà khẳng định bà chỉ cho ông Danh căn nhà sổ 44/1 QL22 trên diện tích đất 1.186,4m2 thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 39, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi.

Căn cứ vào giấy cho đất các con của bà Hấn đề ngày 26/3/2010, có ông Nguyễn Văn Hai, trưởng ấp xác nhận có nội dung: bà Hấn tặng một phần quyền sử dụng thửa đất cho 3 người con là: ông Phan Văn Thanh 606,8m2; ông Phan Văn Muôn khoảng 760,4m2, Phan Văn Thành 651,6m2, diện tích còn lại của thửa đất nêu trên là 1854,2m2 bà Hấn cho Phan Văn Danh 1.186,4m2, còn lại 667,8m2, bà để lại cho con gái là Phan Thị Cói. Như vậy, giấy cho đất trên thể hiện đúng với ý chí của bà Hấn là chỉ cho ông Phan Văn Danh 1.186m2 chứ không phải toàn bộ đất còn lại 1.854,2m2 như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/7/2010 và phù hợp với lời khai của bà Hấn trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.

Mặt khác, tại Điều 1 của hợp đồng tặng cho ghi “Tặng cho quyền sử dụng đất của bên A đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 39 theo giấy chứng nhận số H00312/15 cấp ngày 10/4/2007” là không đúng thực tế (vì theo giấy chứng nhận số H00312/15 cấp ngày 10/4/2007 thì diện tích đất là 3.873m2 đất chứ không phải là 1.854,2m2 đất). Do đó việc bà Hấn đề nghị hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/7/2010 là có căn cứ.

Ngoài ra, trước khi làm thủ tục tặng cho đất Phan Văn Danh thì bà Hấn đã cho 3 người con là: ông Phan Văn Thanh 606,8m2; ông Phan Văn Muôn khoảng 760,4m2, Phan Văn Thành 651,6m2, diện tích còn lại của thửa đất nêu trên là 1854,2m2 là một phần trong thửa 30, tờ bản đồ số 39. Nhưng khi chứng thực hợp đồng tặng cho ngày 05/7/2010, cán bộ Tư pháp xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi chưa làm thủ tục xác nhận các thông tin về thửa đất của cán bộ địa chính xã mà đã chứng thực hợp đồng tặng cho giữa bà Hấn với ông Danh là vi phạm khoản 3, mục II Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP- BTNMT của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn việc công chứng chứng thực họp đồng văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất.

Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xử tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích 667,8m2 thuộc một phần thửa số đất số 30, tờ bản đồ số 39 xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi; buộc ông Phan Văn Danh trả lại cho bà Phạm Thị Hấn diện tích đất 667,8m2 là có căn cứ, phù họp với ý chí và nguyện vọng của bà Hấn trước khi làm thủ tục tặng cho đất Phan Văn Danh.

Toà án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào nội dung hợp đồng có chứng thực để không chấp nhận vêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hấn mà không xem xét đến các tình tiết khác trong hồ sơ vụ án là chưa đủ căn cứ. Vì vậy, kháng nghi của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 741/2012/DSPT ngày 29/6/2012 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị Hấn với bị đơn ông Phan Văn Danh.


117
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về