Quyết định giám đốc thẩm 532/2014/DS-GĐT ngày 18/12/2014 về vụ án Tranh chấp tài sản thừa kế

TOÀ DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 532/2014/DS-GĐT NGÀY 18/12/2014 VỀ VỤ TRANH CHẤP TÀI SẢN THỪA KẾ

Họp phiên tòa ngày 18/12/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thấm vụ án dân sự “Tranh chấp tài sản thừa kế” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1959;

Hộ khẩu thường trú: số 37 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tạm trú tại: N13-406B tầng 4, tập thể K9, Bộ đội biên phòng, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Chuyên, sinh năm 1964;

Hộ khẩu thường trú: số 37 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Chiến, sinh năm 1946; trú tại: số 126, tổ 9 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

2. Bà Nguyễn Thị Chính, sinh năm 1961;

Hộ khẩu thường trú: số 37 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tạm trú tại: số 38, ngõ 10, phố 8/3, phường Quỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ cỏ trong hồ sơ nguyên đơn ông Nguyễn Văn Hiếu trình bày: Bố ông là cụ Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1919, chết ngày 19/12/2003 (âm lịch), mẹ ông là cụ Hà Thi Sinh, sinh năm 1921, chết ngày 03/5/2009 (âm lịch). Bố mẹ ông sinh được tất cả là 13 người con, nhưng 09 người đã chết khi còn đang nhỏ, người nhiều tuổi nhất chết được khoảng 5-6 tuổi. Hiện còn lại 04 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Chiến, sinh năm 1946; ông Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị Chính, sinh năm 1961; bà Nguyễn Thị Chuyên, sinh năm 1964. Ngoài ra, bố mẹ ông không có thêm con nuôi hay con đẻ nào khác.

Khi còn sống bố mẹ ông tạo lập được khối tài sản là ngôi nhà 2,5 tầng có tổng diện tích mặt bằng 96m2 mang hai biển số nhà là 37 và 37A tổ 6, Lương Yên (địa chỉ mới là 37 và 37A tổ 5), Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, nhà xây năm 1990 tọa lạc tại thửa đất số 175 và 284 mang tên ông Nguyễn Văn Thắng là chủ sử dụng trong sổ địa chính, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này do bố mẹ ông khai phá từ năm 1956, hiện gia đình chỉ còn lưu giữ giấy xác nhận của Sở quản lý công trình công cộng Hà Nội xác nhận bố ông là Nguyễn Vãn Thắng chủ sử dụng đất này. Nhà xây năm 1990, không phép, khi xây thuê thợ, tiền công hoàn toàn do bố mẹ ông bỏ tiền ra trả, khi xây ông và các bà Chiến, Chính, Chuyên có công sức trông nom, cơm nước cho thợ và các việc vặt khác. Từ khi xây đến nay không có sửa chữa gì thêm. Ngoài khối tài sản là diện tích nhà đất trên, bố mẹ ông khi chết đi không để lại tài sản nào khác.

Năm 2004, bố ông chết không để lại di chúc, năm 2009 mẹ ông chết, trước khi chết từ năm 2006-2007 mẹ ông đã có để lại di chúc ghi ngày 05/12/2006 và ngày 15/01/2007 có nội dung: Đổ lại toàn bộ quyền lợi phần tài sản của bà cho ông, di chúc này có hai người làm chứng. Sau thời gian đó do anh chị em trong gia đình có tranh chấp, nên ông đã có đơn đề nghị ủy ban nhân dân phường Bạch Đằng hòa giải (ghi ngày 06/8/2007) trong đó thể hiện ý nguyện của bà là bà cho phần quyền lợi của bà về nhà cho ông. Trước khi bổ mẹ ông chết không có nợ lần gì ai. Nay trong anh em gia đình không tự giải quyết được việc thừa kế, nên ông đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc của mẹ ông theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, ông không có yêu cầu hay nguyện vọng gì khác. Theo bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải, bị đơn bà Nguyễn Thị Chuyên trình bày:

Bố đẻ bà là cụ Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1919, chết ngày 19/12/2003 âm lịch tức ngày 10/01/2004 dương lịch, mẹ đẻ là cụ Hà Thị Sinh, sinh năm 1921, chết ngày 03/5/2009 âm lịch tức ngày 26/5/2009 dương lịch. Bố mẹ bà Sinh được tất cả 13 người con, nhưng 09 người đã chết khi mới được 3-4 tuổi, chỉ còn 04 chị em còn sống là: Bà Nguyễn Thị Chiến, ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Nguyễn Thị Chính và bà Nguyễn Thị Chuyên. Ngoài ra, bố mẹ bà không có thêm người con nuôi hoặc con đẻ nào khác.

Khi còn sống bố mẹ bà tạo lập được khối di sản là ngôi nhà 02 tầng có gác xép lửng diện tích 45m2, nay là nhà số 37 tổ 5 (địa chỉ cũ tổ 6) Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội được xây trên thửa đất 78m2 đứng tên cụ Thắng trước đây. về nguồn gốc đất: Từ năm 1956 bố bà được quận Hai Bà Trưng cấp đất nên bố mẹ bà đã dựng nhà tre nứa lá để sinh sống, đến năm 1978 cải tạo thành nhà cấp 4 lọp ngói, người có công xây dựng là chị gái bà Nguyễn Thị Chiến, khi đó bà, ông Hiếu, bà Chính còn nhỏ. Năm 1989 bà bán nhà riêng về ở cùng bố mẹ bà vì thời gian này vợ chồng bà mới ly hôn, một mình bà nuôi 03 con nhỏ. Tháng 8/1990 bố mẹ bà có ý định nâng cấp nhà thành nhà 02 tầng có gác xép lửng, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên không đủ tiền xây dựng nên đã họp gia đình bán cho bà một nửa diện tích nhà nằm trên thửa đất 78m2 mà bố bà được cấp để lấy tiền xây nhà (số tiền bà mua nhà là do bà bán nhà riêng của bà) khi bà trả tiền cho bố mẹ bà thì có đầy đủ 04 chị em bà. Việc mua bán bố bà không viết giấy mua bán mà có làm giấy tặng cho đánh máy nhưng bà để mất nay không còn để xuất trình. Cùng thời điểm bố mẹ bà xây nhà tại 37 Lương Yên thì bà cũng xây nhà 37A. Quá trình ở nhà đất 37A bà có kê khai làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do nhà nằm trong quy hoạch mở đường nên không được cấp. Khi bố mẹ bà chết đi không để lại di chúc và không dặn dò bất cứ người con nào. Di sản bố mẹ bà để lại là ngôi nhà 02 tầng có gác xép lửng được xây trên thửa đất nay là nhà 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội có diện tích 45m chưa được cấp sổ đỏ, hiện một phần diện tích nằm trong quy hoạch giải phóng mặt bằng đường Trần Khát Chân. Căn nhà 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nằm trên cùng thửa đất nguồn gốc của bố mẹ bà do công sức và kinh tế của bà xây dựng nên thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà không ai có quyền tranh chấp khiếu kiện. Từ tháng 4/1991 bà đã tách hộ khẩu gia đình bà riêng và còn được thể hiện ở các giấy tờ như: Thông báo giải phóng mặt bằng quận Hai Bà Trưng, các biên bản kê khai giải phóng mặt bằng, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, các tài liệu này được lập từ năm 1993, 1997, 2006. Diện tích nhà đất này là tài sản riêng của bà không phải là di sản nên không thể đem chia.

Ngoài ý kiến của bà Chuyên, bà Bạch Tuyết Hoa là người đại diện theo ủy quyền của bà Chuyên tại cấp sơ thẩm cỏ ỷ kiến: nhà 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bà Chuyên đã mua lại của bố mẹ bà do vậy đây là tài sản riêng của bà Chuyên, không thể xác định là di sản thừa kế, từ năm 1993 đã có những tài liệu thể hiện bà Chuyên đứng tên kê khai giải phóng mặt bằng và có hồ sơ kỹ thuật thửa đất đứng tên bà, lúc đó cụ Thắng, cụ Sinh còn sống nhưng không có ý kiến gì. Điều đó thể hiện ông bà đã công nhận quyền sử dụng nhà đất đó là của bà Chuyên do vậy nhà 37A tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội không phải là di sản nên không đem chia. Còn diện tích nhà đất tại 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là di sản của cụ Thắng, cụ Sinh để lại đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Chiến trình bày: Bố mẹ đẻ của bà là cụ Nguyễn Văn Thắng, cụ Hà Thị Sinh có các năm sinh và ngày tháng năm chết và các con đúng như ông Hiếu, bà Chuyên đã trình bày. Năm 1964 gia đình bà đi kinh tế miền núi về ở nhờ nhà ông cậu, sau chuyển sang nhà bà Trọng bên dãy nhà lá lúc đó bố bà có người bạn làm ở Sở nhà đất Hà Nội nên xin đất, chồng bà lái xe chở tre nứa lá về dựng mấy gian nhà lá ở tại số nhà 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chị Chuyên lấy chồng được 03 con thì chồng bỏ, bố mẹ bà thấy vậy đã gọi 04 chị em bà và bảo chị Chuyên bán nhà riêng đi về bố mẹ bán cho nửa nhà cả 04 chị em bà đều đồng ý, khi bố mẹ bà bán nhà cho chị Chuyên không viết giấy tờ gì, bán với gái 6 lạng vàng ta.

Đến tháng 8/1990 bố mẹ bà phá bỏ nhà lá, xây dựng ngôi nhà 02 tầng có gác xép lửng trên thửa 78m2, nay là số nhà 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Bà, ông Hiếu, bà Chính đều có công xây dựng ngôi nhà này, còn nửa nhà cấp 4 của bà Chuyên do bà tự xây dựng, nay là nhà 37A tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Phần kinh tế xây dựng nhà 37 Lương Yên là của bố mẹ bà. Bà xác nhận bà, ông Hiếu, bà Chính không phải đóng góp gì mà chỉ có bỏ công sức lo liệu vật tư xây dựng. Nay bà cho rằng nhà 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là di sản của bố mẹ bà để lại còn nhà 37A tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là tài sản của bà Chuyên không phải là di sản.

Khi bố mẹ bà chết đi không để lại di chúc. Năm 2008 ông Hiếu nhiều lần ép mẹ bà ra phường để ký vào di chúc do ông tự lập, nếu ông Hiếu có di chúc thì là di chúc giả tự lập và ép buộc mẹ bà ký vào. Bà để nghị hủy bỏ di chúc và chia di sản thừa ké theo quy định của pháp luật. Bà không yêu cầu xem xét công sức đóng góp vào việc xây dựng nhà số 37 tổ 5 Lưorng Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Bà Nguyễn Thị Chính trình bày: Bố mẹ đẻ của bà là cụ Nguyễn Văn Thắng, cụ Hà Thị Sinh có các năm sinh và ngày tháng năm chết và các con đứng như ông Hiếu, bà Chuyên đã trình bày. Khi còn sống bố mẹ bà tạo lập được di sản là ngôi nhà 02 tầng có gác xép lửng, diện tích khoảng 45m2 nay là số 37 Lương Yên, được xây dựng trên thửa đất 78m2 từ năm 1956, bố bà được quận Hai Bà Trưng cấp sau đó dựng nhà tre nứa lá sinh sống đến năm 1978 cải tạo thành nhà cấp 4 lọp ngói; đến khoảng tháng 8/1990 bố bà phá bỏ nhà cấp 4 để xây nhà 02 tầng có gác xép lửng trên thửa đất 78m2. Trước khi xây nhà, do hoàn cảnh gia đình, bố mẹ bà đã họp gia đình lại thống nhất bán một nửa diện tích đất 78m2 cho bà Chuyên. Khi bà Chuyên thanh toán tiền cho bố mẹ bà có sự chứng kiến của bà, bà Chiến, ông Hiếu và ông Quảng là người thi công điện nước cho công trình của bố mẹ bà, diện tích bà Chuyên mua bà tự xây dựng, nay là nhà số 37A tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Khi bố mẹ bà xây nhà số 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, tiền là của bố mẹ bà, còn bà, bà Chiến, ông Hiếu không phải đóng góp gì chỉ bỏ công sức lo vật tư xây dựng. Khi bố mẹ bà chết đi không để lại di chúc. Năm 2008, ông Hiếu nhiều lần ép buộc mẹ bà ra ủy ban nhân dân phường để ký vào di chúc do ông tự lập, mẹ bà kể lại như vậy. Nếu ông Hiếu có di chúc thì đó là di chúc giả do ông Hiếu tự lập và ép mẹ bà ký vào. Hiện nay di sản bố mẹ bà để lại là ngôi nhà 37 Lương Yên với diện tích khoảng 45m2 có gác xép lửng, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà vì diện tích nhà đất này nằm trong quy hoạch giải phóng làm đường Trần Khát Chân, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Bà đề nghị hủy bỏ di chúc của mẹ bà vì di chúc đó là giả, chữ ký là giả không họp pháp, đề nghị xác định 37A tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là của bà Chuyên không chia. Chia di sản là nhà đất tại 37 tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật, bà không yêu cầu thanh toán công sức xây dựng diện tích nhà đất này.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2012/DS-ST ngày 12/11/2012, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Nguyễn Văn Hiểu đối với bà Nguyễn Thị Chuyên.

Xác định thời điểm mở thừa kế thứ nhất là ngày 10/01/2004 khi cụ Nguyễn Văn Thẳng chết. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thằng gồm: Cụ Hà Thị Sinh, bà Nguyễn Thị Chiến, ông Nguyên Văn Hiêu, bà Nguyên Thị Chính và bà Nguyên Thị Chuyên.

Xác định thời điểm mở thừa kế thứ hai là ngày 26/5/2009 khỉ cụ Hà Thị Sinh chết. Cụ Sinh có để lại di chúc nên di sản cụ Sinh được chia theo di chúc.

Xác định di sản thừa kế của cụ Thắng, cụ Sinh để lại toàn bộ diện tích ngôi nhà 2,5 tầng mái bằng bê tông cỏ diện tích mặt bằng 92,70m mang hai số nhà là 37, 37A tổ 5 (tổ sổ 6 cũ) Lưcmg Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phổ Hà Nội cổ tổng giả trị là 5.712.680.746 đ.

Chia di sản của cụ Thẳng, cụ Sinh cho các thừa kế là bà Chiến, ông Hiếu, bà Chính, bà Chuyên cụ thê như sau:

Chia di sản của cụ Sinh theo di chúc. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hiếu chỉ nhận phần di sản của cụ Sinh tương ứng với diện tích ngôi nhà 2,5 tầng mái bằng bê tông cỏ biển sổ nhà 37 tổ 5 (tổ số 6 cũ) Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phổ Hà Nội có tổng giả trị là 2.985.667. ỈOỈđ nên phân định và tạm giao ông Hiếu được quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích ngôi nhà trên. Ông Hiếu được hưởng chính sách đền bù giải phóng mặt bằng đôi với diện tích nhà đất bị thu hồi theo quy của pháp luật và phải chấp hành các quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước cỏ thấm quyển đổi với diện tích nhà đât được phân định và tạm giao ở trên.

Chia di sản của cụ Thắng theo pháp luật cho bà Chiến, ông Hiếu, bà Chính, bà Chuyên mỗi kỷ phần được hưởng trị giá 908.671.215 đồng.

Chia bà Chuyên được hưởng di sản bằng hiện vật là ngôi nhà 2,5 tầng mái bằng bê tông có diện tích mặt băng 44,4m2 mang biên sô nhà 37A tô 5 (tô sô 6 cũ) Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bà Chuyên được quản lý, sử dụng và được hưởng chính sách đền bù giải phóng mặt bằng đổi với diện tích nhà đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật và phải chấp hành các quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thấm quyền đổi với diện tích nhà đất được phân định và tạm giao ở trên.

Bà Chuyên cỏ nghĩa vụ thanh toán cho bà Chiến, bà Chính mỗi người một giá trị di sản thừa kế với so tiền cụ thế của môi kỷ phần là 908.671.215 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 23/11/2012, bà Nguyễn Thị Chuyên kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án xác định nhà 37A Lương Yên là tài sản riêng của bà không phải là di sản thừa kế của bố mẹ bà để phân chia theo yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị chia nghĩa vụ chi phí lo đám tang cho mẹ bà và chi phí bốc mộ, xây mộ cho cả bố và mẹ bà.

Ngày 23/11/2012 bà Nguyễn Thị Chiến, bà Nguyễn Thị Chính kháng cáo với nội dung: Không nhât trí án sơ thâm đã xử, đê nghị Tòa án xác định nhà 37A Lương Yên là tài sản riêng của bà Chuyên do khi còn sống bố mẹ các bà đã bán cho bà Chuyên V2 nhà đất và bà Chuyên đã xây dựng nhà ở mang so 37A Lương Yên như hiện nay. Chỉ phân chia thừa kế di sản của bố mẹ các bà là nhà đất tại 37 Lương Yên, các bà đề nghị cho các bà được hưởng di sản bằng hiện vật.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 96/2013/DS-PT ngày 22/4/2013, Tòa án nhân dân thành phổ Hà Nội quyết định:

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm sổ 11/2012/DSST ngày 12/11/2012 của Tòa án nhăn dân quận Hai Bà Trưng, thành phô Hà Nội.

Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Thẳng và cụ Hà Thị Sinh để lại là toàn bộ diện tích ngôi nhà 2 tầng cỏ gác xép lửng, mải bằng bê tông, trên diện tích mặt bằng tổng cộng theo hiện trạng là 92,7Om2 mang hai biển số nhà là 37, 37A tổ 5 (tổ so 6 cũ) Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trwĩg, thành phố Hà Nội có tổng giá trị là 5.712.680.746 đồng. Xác định thời điểm mở thừa kế thứ nhất là ngày 10/01/2004 khỉ cụ Nguyễn Văn Thắng chết, cụ Thẳng chết không để lại di chúc nên phần tài sản là di sản cụ Thẳng được chia theo pháp luật; thời điểm mở thừa kế thứ hai là ngày 26/5/2009 khi cụ Hà Thị Sinh chết. Cụ Sinh có để lại di chúc hợp pháp đề ngày 15/01/2007 nên phần tài sản là di sản cụ Sinh được chia theo di chúc.

Chia di sản của cụ Thắng, cụ Sinh cho cảc thừa kế là bà Chiến, ông Hiếu, bà Chính, bà Chuyên cụ thế như sau:

- Phân định và tạm giao cho ông Hiếu được quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích nhà so 37 to 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội có diện tích mặt bằng là 48,3m nhà xây 2 tầng có 1 gác xép lửng, mải bê tông, có tổng giả trị là 2.985.667.101 đồng. Ông Hiếu được hưởng chính sách đền bù giải phóng mặt bằng đổi với diện tích nhà đất bị thu hồi theo quy của pháp luật và phải chấp hành các quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đổi với diện tích nhà đất được phân định và tạm giao ở trên.

- Phân định và tạm giao cho bà Nguyễn Thị Chuyên, bà Nguyễn Thị Chỉnh và bà Nguyễn Thị Chính được quản lý sử dụng chung toàn bộ diện tích nhà 37A tổ 5 (tổ sổ 6 cũ) Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội có diện tích mặt bằng 44,4m2 nhà 2 tầng cỏ 1 gác xép lửng, mải bê tông, có tổng giả trị là 2.726.013.645 (trong đó phần của mỗi bà được hưởng là 1/3 nhà đất tại sổ 37A Lương Yên có trị giá bằng 908.671.215 đồng). Bà Chuyên, bà Chính và bà Chiến được hưởng chính sách đền bù giải phóng mặt bằng đôi với diện tích nhà đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật và phải chấp hành các quyết định của cơ quan quản ỉỷ Nhà nước có thẩm quyền đổi với diện tích nhà đất được phân định và tạm giao ở trên.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hiếu chỉ nhận phần di sản tương ứng với nhà đất tại 37 Lương Yên và không yêu cầu các bà Chuyên, Chính, Chiến phải thanh toán chênh lệch giá trị phân chia di sản cho ông Hiếu.

Các bên đương sự là đồng thừa kế được sở hữu sử dụng chung bức tường ngăn giữa hai sổ nhà 37 và 37A Lương Yên và phải đảm bảo thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu đoi với mốc giới là tường nhà chung theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Chuyên có đon đề nghị xem xét lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 339/2014/KN-DS ngày 15/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 96/2013/DSPT ngày 22/4/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 11/2012/DS-ST

ngày 12/11/2012 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 18/12/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Cụ Nguyễn Văn Thắng và cụ Hà Thị Sinh có 13 người con chung trong đó 09 người đã chết khi còn đang nhỏ, còn lại 04 người con là bà Nguyễn Thị Chiến, ông Nguyễn Văn Hiếu, bà Nguyễn Thị Chính, bà Nguyễn Thị Chuyên. Ngày 10/01/2004, cụ Thắng chết, không để lại di chúc. Ngày 26/5/2009, cụ Sinh chết. Nguồn gốc đất diện tích 96m2 trên đất có hai căn nhà 37, 37A tổ 5 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (gọi tắt là nhà 37 và 37A) là của cụ Thắng và cụ Sinh. Nhà 37 và 37A đang có tranh chấp được xây dựng năm 1990, chung móng, chung tường, có gác xép lửng.

Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hiếu khởi kiện cho rằng nhà 37 và 37A là do cụ Thắng và cụ Sinh bỏ tiền xây dựng. Ngày 05/12/2006 và ngày 15/01/2007, cụ Sinh đã lập 02 bản di chúc có nội dung cho ông toàn bộ phần tài sản của cụ Sinh. Do đó, ông Hiếu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Thắng và công nhận di chúc của cụ Sinh.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Chuyên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Hiếu vì cho rằng cụ Thắng và cụ Sinh đã chuyển nhượng 14 diện tích đất nêu trên cho bà với giá 06 lượng vàng để lấy tiền xây nhà 37; còn nhà 37A do bà xây dựng.

Theo lời khai của bà Nguyễn Thị Chính và bà Nguyễn Thị Chiến đều khẳng định cụ Thắng, cụ Sinh đã chuyển nhượng đất cho bà Chuyên với giá 06 lượng vàng, không viết giấy tờ; nhà 37 do bố mẹ xây dựng, nhà 37A do bà Chuyên xây dựng. Mặt khác, theo lời khai của bà Trần Thị Mai An (là bạn của cụ Sinh) xác định có nghe cụ Sinh nói lại là do bà Chuyên ly hôn và đang tìm mua nhà để ở nên cụ Thắng, cụ Sinh bán 14 đất cho bà Chuyên. Tại Công văn số 120/UBND-TNMT ngày 31/10/2011 của ủy ban nhân dân phường Bạch Đằng và hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 05/3/1997 thể hiện: nhà 37A thuộc thửa 175, diện tích 44,3mdo bà Chuyên đứng tên chủ sử dụng; nhà 37 thuộc thửa 284, diện tích 48,3m2 do cụ Thắng đứng tên chủ sử dụng. Chính ông Hiếu cũng thừa nhận sau khi nhà xây dựng xong, bà Chuyên ở nhà 37A; còn nhà 37 ông ở cùng với cụ Thắng, cụ Sinh.

Trên thực tế, nhà 37A bà Chuyên vẫn đang quản lý, sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ cụ Thắng, cụ Sinh đăng ký kê khai diện tích đất bao nhiêu; bà Chuyên đứng tên chủ sử dụng nhà 37A tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất dựa trên cơ sở nào để đánh giá có việc mua lại 14 diện tích đất của bố mẹ hay không mà đã xác định nhà, đất tại số 37A là của cụ Thắng và cụ Sinh là chưa đủ cơ sở.

Theo ông Hiếu, trước khi chết cụ Sinh có lập 02 bản “di chúc” ngày 05/12/2006 và ngày 15/01/2007 có nội dung cho ông toàn bộ nhà, đất tại số 37 và 37A. Di chúc này có chữ ký, dấu vân tay của cụ Sinh và có 02 nhân chứng là ông Vũ Đình Thụ, ông Nguyễn Quang Vinh (là 02 luật sư của Văn phòng Luật sư Đông Nam Á). Bà Chuyên, bà Chính và bà Chiến cho rằng 02 bản di chúc này là giả vì chữ ký, dấu vân tay không phải của cụ Sinh. Tại các kết luận giám định số 90/C54-P5 ngày 11/5/2012, kết luận giám định số 90/C54-P3 ngày 02/7/2012 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm và kết luận giám định số 23/KL-GĐKTH ngày 05/4/2013 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự - Bộ quốc phòng thì không đủ cơ sở kết luận các chữ ký “Sinh” trong bản “di chúc” ngày 15/01/2007 với các chữ ký mẫu so sánh mang tên Hà Thị Sinh là do cùng một người ký ra hay không; không đủ yếu tố để tiến hành giám định dấu vân tay. Do đó, chưa có cơ sở xác định 02 bản “di chúc” của cụ Sinh do ông Hiếu xuất trình là hợp pháp. Nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại quyết định chia phần di sản của cụ Sinh theo “di chúc” nêu trên cho ông Hiếu là chưa đủ căn cứ.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 339/2014/KN-DS ngày 15/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 96/2013/DS-PT ngày 22/04/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 11/2012/DS-ST ngày 12/11/2012 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp tài sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Hiếu với bị đơn là bà Nguyễn Thị Chuyên; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (02 người).


141
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 532/2014/DS-GĐT ngày 18/12/2014 về vụ án Tranh chấp tài sản thừa kế

Số hiệu:532/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/12/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về