Quyết định giám đốc thẩm 174/2014/DS-GĐT ngày 25/04/2014 về vụ án tranh chấp yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và đòi tiền đặt cọc

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 174/2014/DS-GĐT NGÀY 25/04/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP YÊU CẦU HỦY BỎ HỢP ĐỒNG VÀ ĐÒI TIỀN ĐẶT CỌC

Họp phiên tòa ngày 25 tháng 4 năm 2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án tranh chấp yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và đòi tiền đặt cọc giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1962, trú tại ấp Bình An, xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Bà Lê Thị Sanh, sinh năm 1956; trú tại ấp Bình Hào A, xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Dương, sinh năm 1952; trú tại ấp Bình Phong, xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 01/10/2008 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng trình bày:

Tháng 9/2007, vợ ông Mai Văn Đang tự xưng tên là Lê Thị Dương có thỏa thuận bán cho bà diện tích đất ruộng 3267m2 do bà Lê Thị Dương đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ ông Đang đưa cho bà xem giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều mang tên Lê Thị Dương; bà và bà Dương thỏa thuận giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng, bà đãđưa cho bà Dương 29.000.000 đồng đặt cọc, còn lại 71.000.000 đồng bà sẽ trả khi hoàn tất thủ tục sang tên và khi bà nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà sau hai tháng, bà Dương có làm biên nhận viết tay do bà Dương viết và ký tên. Sau 02 tháng, bà Dương không thực hiện hợp đồng, do bà cần tiền làm ăn nên bà đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Lê Thị Dương cho bà Nguyễn Ngọc Dung với số tiền là 10.000.000 đồng. Ngày 01/7/2008, bà bảo bà Dương làm hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc mua bán đất sau này, hợp đồng đặt cọc và biên nhận tiền 29.000.000 đồng đều ghi tên Lê Thị Dương. Sau đó bà Dương đi Đài Loan và hẹn khi về sẽ thực hiện việc chuyển nhượng đất, bà có tìm hiểu và được biết người giao dịch chuyển nhượng đất với bà không phải là Lê Thị Dương mà là bà Lê Thị Sanh (bà Sanh là em gái bà Dương); như vậy bà Sanh đã mạo nhận là bà Dương để chuyển nhượng đất cho bà là không đúng, bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất và yêu cầu bà Sanh hoàn trả lại cho bà 29.000.000 đồng tiền cọc cho việc chuyển nhượng đất.

Về việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương thì sau này bà được biết bà Dung lại thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương cho bà Nguyễn Thị Kim Liên, sau đó bà Lê Thị Dương cùng bà Lê Thị Sanh đã đến gặp bà Liên chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Dương.

Bị đơn là bà Lê Thị Sanh trình bày:

Bà Lê Thị Dương là chị gái bà. Ngày 29/12/2007, bà có vay của bà Hồng 20.000.000đ với lãi suất 10%/tháng, vay trong thời hạn 06 tháng, bà phải chi cho bà Hồng 2.000.000 đồng tiền cò vì bà Hồng nói bà Hồng đi vay tiền của người khác; bà đã đóng lãi số tiền 20.000.000 đồng này được 02 tháng, sau đó bà Hồng bảo giấy viết tay chủ nợ không đồng ý nên phải làm hợp đồng đánh máy, trong hợp đồng đánh máy có vốn là 20.000.000 đồng, cộng cả tiền lãi 03 tháng vào luôn thành 29.000.000 đồng (lãi đã tăng lên 15%/tháng nên 1 tháng tiền lãi là 3.000.000đ); bà đã đóng lãi được 04 tháng = 12.000.000 đồng; như vậy đến ngày 29/6/2008 bà đã đóng được 16.000.000đ tiền lãi và 2.000.000đ tiền cò cho bà Hồng, tổng cộng là 18.000.000 đồng. Sau đó, bà và bà Hồng làm lại họp đồng khác ghi ngày 01/7/2008 cũng với số tiền là 29.000.000 đồng. Sau đó vài ngày, bà Dung, bà Liên ở Mỹ Tho có cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương đến gặp bà bảo rằng 06 tháng nay bà không đóng tiền lãi gì cả và yêu cầu bà đóng tiền lãi cho họ. Bà có hỏi bà Hồng thì bà Hồng nói đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương cho bà Dung vì tiền bàHồng cho bà mượn là do bà Hồng vay của họ, bà Hồng bảo bà trả tiền cho bà Hồng để bà Hồng đem trả họ và lấy giấy tờ về. Bà nói bà Hồng đem giấy chủ quyền đất về bà sẽ trả tiền nhưng bà Hồng cũng không chịu, cuối cùng người Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cho bà trả vốn gốc 20.000.000 đồng mà bà Hồng đã mượn để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về, như vậy cũng là họp lý nhưng không hiểu sao bà Hồng lại thưa kiện bà; nay bà Hồng kiện đòi bà 29.000.000 đồng bà cũng đồng ý trả bà Hồng tiền nhưng bà Hồng phải trả lại bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Dương trình bày:

Bà là chị ruột của bà Lê Thị Sanh, bà có cho bà Sanh mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà, bà Sanh có đi vay tiền và cho bà 5.000.000 đồng. Bà không biết bà Sanh vay tiền của ai và ai đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà, bà yêu cầu bà Sanh chuộc lại và trả bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 181/2010/DS-ST ngày 28/07/2010, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo quyết định:

Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc về việc sang nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Dương với bà Nguyễn Thị Hồng lập ngày 01/7/2008.

Buộc bà Lê Thị Sanh phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hồng 29.000.000 đồng, trả làm một lần ngay sau khỉ bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/8/2010, bà Lê Thị Sanh kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 12/2011/DS-PT ngày 13/01/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định: sửa một phần bản án sơ thẩm:

Hủy hợp đồng đặt cọc về việc sang nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị Dương với bà Nguyễn Thị Hồng lập ngày 01/7/2008.

Buộc bà Lê Thị Sanh phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hồng 29.000.000 đồng, trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng hoàn trả lại cho bà Lê Thị Sanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương khi án có hiệu lực pháp luật.

Hai bên thực hiện việc giao nhận tiền và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất củng một lúc khi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 29/8/2011, bà Nguyễn Thị Hồng có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.Tại Quyết định số 589/2013/KN-DS ngày 27/12/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 12/2011/DS-PT ngày 13/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 181/2010/DS-ST ngày 28/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Ngày 01/7/2008, bà Lê Thị Dương và bà Nguyễn Thị Hồng lập Hợp đồng đặt cọc về việc sang nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: bà Dương đồng ý chuyển nhượng cho bà Hồng 3267m2 tại ấp Bình An, xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang với giá là 100.000.000 đồng, bà Hồng đặt cọc trước cho bà Dương 29.000.000 đồng. Thực tế người ký hợp đồng đặt cọc với bà Hồng không phải là bà Lê Thị Dương mà là bà Lê Thị Sanh (em gái của bà Dương). Bà Hồng cho rằng bị bà Sanh lừa dối nên khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng và đòi 29.000.000 đồng tiền đặt cọc. Bà Sanh và bà Dương thừa nhận bà Sanh là người ký hợp đồng ngày 01/7/2008 và là người nhận tiền từ bà Hồng, bà Sanh đồng ý trả lại bà Hồng 29.000.000 đồng, nhưng yêu cầu bà Hồng trả lại bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hồng khai đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương cho bà Nguyễn Ngọc Dung để vay 10.000.000 đồng. Bà Dung xác định có nhận thế chấp của bà Hồng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương để cho bà Hồng vay 10.000.000 đồng, sau đó lại thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho bà Nguyễn Thị Kim Liên, sau này bà Dương và bà Sanh có tìm đến và bà Dung đã đưa bà Dương, bà Sanh đến chỗ bà Liên chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mất 10.000.000 đồng. Bà Liên khai không biết việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hồng, bà Sanh, bà Dung hay bà Dương, bà cũng không giữ giấy chủ quyền đất mang tên Lê Thị Dương, bà không có quan hệ hay giao dịch gì với những người này.

Bà Sanh cũng khai bà có chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở chỗ bà Liên về nhưng do bà Hồng kiện đòi bà trả tiền nên bà đã đem trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để lấy tiền lại, hiện bà không giữ và bà cũng không biết ai đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Dương.

Như vậy, lời khai các đương sự mâu thuẫn nhau về việc ai đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương. Lẽ ra, Tòa án phải đưa bà

Nguyễn Ngọc Dung và bà Nguyễn Thị Kim Liên tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để làm rõ ai đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị Dương. Nếu không xác định được người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Dương thì phải xác định các chi phí họp lý để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Dương, để buộc người có lỗi phải bồi thường. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm xác định thỏa thuận giữa bà Hồng và bà Sanh vô hiệu và buộc bà Sanh trả lại tiền cho bà Hồng là đúng, nhưng lại không giải quyết nội dung nêu trên là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm còn buộc hai bên thực hiện việc trả tiền và trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng một thời điểm là không đúng, vì việc này thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án.

Mặt khác, nội dung biên bản phiên tòa phúc thẩm thể hiện phần thủ tục bắt đầu phiên tòa ghi tên thành phần Hội đồng xét xử và đương sự phù hợp với nội dung bản án, nhưng phần xét hỏi thì không phải tên các đương sự và nội dung xét hỏi cũng không phải của vụ án này, nên thuộc trường họp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Vì các lẽ trên; căn cứ khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, khoản 1, khoản 2 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội);

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 589/2013/KN-DS ngày 27/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 12/2011/DS-PT ngày 13/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang;

Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 12/2011/DS-PT ngày 13/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thấm số 181/2010/DS-ST ngày 28/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.


202
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 174/2014/DS-GĐT ngày 25/04/2014 về vụ án tranh chấp yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và đòi tiền đặt cọc

Số hiệu:174/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/04/2014
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về