Bản án 98/2019/HNGĐ-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp ly hôn 

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TH, TỈNH TH

BẢN ÁN 98/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại hội trường, Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 446/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2019/QĐSTHNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thanh V, sinh năm 1995.

Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, phường Bãi Cháy, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Bị đơn: Anh Thái Hồng P, sinh năm 1991

Nơi ĐKHKTT: Tổ 03, P. Quan Triều, TP. TH, tỉnh TH.

( Có mặt chị V, anh P tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Đỗ Thanh V trình bày: Chị và anh Thái Hồng P kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quan Triều,thành phố TH, tỉnh TH. Hai bên tự nguyện kết hôn, không bị ai ép buộc gì. Hai gia đình đồng ý và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống. Hai vợ chồng đã có 01 con chung, là Thái Ngọc D, sinh ngày 02/01/2018 Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết Quá trình chung sống, vợ chồng chỉ hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm về tính cách, lối sống không hợp nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng không hàn gắn được. Vợ chồng chị đã sống ly thân nhau được 09 tháng nay, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Yêu cầu được ly hôn với anh P để giải phóng cho nhau.

Khi ly hôn về con chung: Do con chung con còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên chị yêu cầu được nuôi con Thái Ngọc Diệp, sinh ngày 02/01/2018 Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về án phí: Chị V nhận nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Tại bản tự khai và tại các phiên hòa giải anh Thái Hồng P đã thể hiện quan điểm: Về thời gian kết hôn và đăng ký kết hôn, về con chung chị V trình bày như trên là đúng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có

* Tại bản tự khai, tại biên bả hòa giải bị đơn anh Thái Hồng P trình bày: Trong cuộc sống chung hai vợ chồng có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng không có gì mâu thuẫn lớn, do chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Quảng Ninh và làm việc ở đó nên vợ chồng anh sống xa nhau từ tháng 10/2018 đến nay dẫn đến việc chị V không còn tình cảm và không quan tâm đến anh và gia đình nữa. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn chị V suy nghĩ lại cùng anh đoàn tụ nuôi dạy con chung, anh không nhất trí ly hôn với chị V Về con chung: Nếu trường hợp chị V dẫn dưt khoát ly hôn anh, anh đề nghị được nuôi con chung do cháu hiện tại đang ở cùng anh và ông bà nội.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh P xác định hai vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa chị V yêu cầu được ly hôn với anh P, yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con cùng chị 1.500.000đồng/tháng. Anh P không nhất trí ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ nuôi dưỡng con chung. Trường hợp phải ly hôn, anh cũng mong muốn được nuôi con, trường hợp nếu chị V được nuôi con anh cũng nhất trí mức cấp dưỡng nuôi con cùng chị V 1.500.000 đồng/ tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn anh Thái Hồng P có hộ khẩu thường trú tại tổ 03, phường Quan Triều, thành phố TH nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TH.

[2]. Về nội dung: Chị Đỗ Thanh V và anh Thái Hồng P kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quan Triều, thành phố TH, tỉnh TH, trên cơ sở tự nguyện nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn theo chị V là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, luôn không có sự tôn trọng, cảm thông chia sẻ trong cuộc sống. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2018 cho đến nay. Anh P cho rằng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, anh xác định vẫn còn tình cảm mong muốn chị V suy nghĩ để vợ chồng cùng nuôi dạy con chung. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên cùng suy nghĩ nhưng chị V vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh P xác định vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, không ai còn quan tâm đến ai nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

[3]. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung Thái Ngọc D, sinh ngày 02/01/2018. Cả hai đều có nguyện vọng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy, con chung Thái Ngọc Diệp hiện còn nhỏ đang dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, chị Diệp có công việc ổn định, có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“ 1. Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của luật này, bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ kiều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị V, giao con chung Thái Ngọc Diệp cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành(đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế và phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Đi với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/ tháng, anh P nhất trí nếu chị V được nuôi con.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V và anh P xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị V phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thanh V, Cho chị V được ly hôn với anh Thái Hồng P

2. Về con chung: Giao con chung là Thái Ngọc D, sinh ngày 02/01/2018 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

* Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Anh Thái Hồng P phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng chị V 1.500.000 đồng/ tháng kể từ tháng 10/2019 cho đến khi con trưởng thành( đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất trên số tiền chậm thi hành cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Án phí: Chị V phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001761 ngày 03/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH. Anh P phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con vào ngân sách nhà nước.

Chị V, anh P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 98/2019/HNGĐ-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp ly hôn 

Số hiệu:98/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về