Bản án 380/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 380/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2018 taị trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2018/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 334/ 2018/ QĐXXST- HNGĐ ngày 07 /8/2018 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Minh T, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Tổ 9, ấp 5, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân châu, tỉnh An Giang ( có mặt);

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Tổ 9, ấp 5, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân châu, tỉnh An Giang. (vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của chị Lê Thị Minh T đề ngày 21/5/2018 và tại phiên tòa thể hiện như sau:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Minh T với anh Phạm Văn C yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2013, sau đó anh chị đến UBND xã Vĩnh Xương đăng ký kết hôn trễ hạn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 15/02/2016. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc đến tháng 7 năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn, hai người sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn lại được, do đó chị T xin được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Theo chị T thì chị với anh C có một đứa con chung tên Phạm Diễm M, sinh ngày 16/01/2014 hiện đang sống với chị T, khi ly hôn chị Minh T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản và nợ chung: Theo chị T, chị với anh C không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Văn được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh C vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến của mình.

Ý kiến phát biểu của đại diện viện kiểm sát: Về tố tụng Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi mở phiên tòa xét xử và tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng theo trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định; về nội dung, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ vụ án được công bố thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( sau đây gọi HĐXX) xét thấy:

[1]Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra, theo đơn khởi của chị Lê Thị Minh T đề ngày 21/5/2018 xin ly hôn với anh Phạm Văn C vì vậy cần áp dụng Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án. Hôn nhân giữa chị T với C có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, theo biên bản xác minh ngày 02/8/2018 thì anh C có hộ khẩu thường trú tại tổ 11, ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Anh C đi làm ăn xa không báo với địa phương. Như vậy anh C cố tình che dấu địa chỉ. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3]. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Minh T với anh Phạm Văn C yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2013, sau đó anh chị đến UBND xã Vĩnh Xương đăng ký kết hôn trễ hạn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 15/02/2016. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc đến tháng 7 năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn, hai người sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn lại được, do đó chị T xin được ly hôn với anh C.

Anh Phạm Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến quan điểm của mình. Theo chị T trình bày phần trên thì tình cảm giữa hai người đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 8 năm2017 và anh chị không còn sống chung cho đến nay. Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thì bà Giáp Thị X là mẹ ruột chị T cung cấp thông tin, sau khi cưới nhau thì T và C sống chung tại nhà cha mẹ chồng T ở ấp 4, xã Vĩnh Xương. Đến năm 2016 thì C sinh tật thường ăn nhậu về đánh vợ con nhiều lần, bà với cha mẹ C có gặp nhau bàn bạc cho hai vợ chồng T, C đoàn tụ lại và được vài lần như vậy. Đến tháng 7/2017 thì C tiếp tục đánh đuổi T đi cho đến nay, theo bà X thì Tòa án cho T với C được ly hôn nhau là hợp lý.

Như vậy, cho thấy tình cảm giữa chị T với anh C đã mâu thuẩn trầm trọng, vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị T xin ly hôn với anh C là hợp lý. Được HĐXX chấp nhận, nghĩ nên cho chị T ly hôn với anh C là phù hợp

[4]. Về con chung: Theo chị T thì chị với anh C có một đứa con chung tên Phạm Diễm M, sinh ngày 16/01/2014 hiện đang sống với chị T, khi ly hôn chị Minh T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu này của chị T là hợp lý nên được HĐXX chấp nhận. Nên giao cháu Diễm M cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý, chị T tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là phù hợp được HĐXX công nhận.

“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh C có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

[5]. Về tài sản và nợ chung: Theo chị Lê Thị Minh T trình bày thì chị với anh C không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX không đặt ra để giải quyết trong bản án này. Sau này nếu anh C cho rằng giữa anh với chị T có tài sản và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì anh C vẫn có quyền khởi kiện chị Tuyết ra Tòa án để yêu cầu giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[6]Về án phí: Chị Lê Thị Minh T là nguyên đơn, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì chị Lê Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chị T được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số0004659 ngày 29/5/2018 của  chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khỏan 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Ñieàu 147; khoản 2 Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Minh T;

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Minh T được ly hôn với anh Phạm Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu tên Phạm Diễm , sinh ngày 16/01/2014 cho chị Lê Thị Minh T được tiếp tục nuôi dưỡng. Công nhận sự tự nguyện nuôi con của chị Lê Thị Minh T mà không yêu cầu anh Phạm Văn C cấp dưỡng nuôi con.

“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh C có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu giữa hai người có tranh chấp với nhau về tài sản và nợ trong thời gian chung sống thì anh Phạm Văn C vẫn có quyền khởi kiện chị Lê Thị Minh T để yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật;

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chị T được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0004659 ngày 29/5/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị T có quyền kháng cáo. Riêng anh Phạm Văn C vắng mặt vẫn được quyền kháng cáo trong hạn trên kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 380/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:380/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Châu - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về