Bản án 152/2019/HS-ST ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 152/2019/HS-ST NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu C, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1979 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Thôn T, xã H, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Thành (Nguyễn Hữu B), sinh năm 1954, con bà Trần Thị M, sinh năm 1954, đều trú tại: Thôn T, xã H, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn; có vợ: Đoàn Hồng K, sinh năm 1982; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; tin án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 10/02/2019, bị Công an thành phố S xử phạt 1.500.000đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 07/02/2018 bị Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xoá tiền sự); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh L, sinh năm 1992, Trú tại: Khu tái định cư xã E, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Sơn Hà, sinh năm 1983; Trú tại: Số 38/8, đường D, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1975;

+ Chị Đồng Thị G, sinh năm 1976;

+ Anh Nguyễn Hữu Trường Y, sinh ngày 09/01/2001;

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn.

(Anh Nguyễn Hữu Q, chị Đồng Thị G, anh Nguyễn Hữu Trường Y đều vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt

+ Cháu Nguyễn Mạnh O, sinh năm 2005.

Ngưi đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Mạnh O: Chị Đoàn Hồng K, sinh năm 1982 (là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Mạnh O);

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn. Cháu Nguyễn Mạnh O và chị Đoàn Hồng K đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 12 giờ ngày 26/6/2019, Nguyễn Hữu C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12P1-075.10 đi qua công trình đang xây dựng tại khu tái định cư thôn Khòn Khuyên, xã E, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn, nhìn thấy lán của thợ xây công trình khoá cửa, không có người trông coi đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nguyễn Hữu C dừng xe, đi bộ đến lán, chui qua lỗ bạt rách vào trong lán, lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Dell kèm dây sạc, 01 điện thoại Iphone 6, 01 điện thoại Iphone 5S đều là tài sản của anh Nguyễn Mạnh L, rồi điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại Sơn A ở địa chỉ số 51, đường I, phường Vĩnh Trại, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn thuê anh Nguyễn Sơn A phá mật khẩu điện thoại Iphone 6 và gửi chiếc máy tính xách tay cùng dây sạc lại cửa hàng điện thoại Sơn A. Nguyễn Hữu C mang chiếc điện thoại Iphone 5S về nhà cho con trai là Nguyễn Mạnh O sử dụng chơi điện tử còn điện thoại Iphone 6 Nguyễn Hữu C mang đến nhà anh Nguyễn Hữu Q nói muốn bán với giá 1.300.000đồng. Anh Nguyễn Hữu Q đồng ý mua điện thoại và thoả thuận với Nguyễn Hữu C là sẽ trả tiền sau, Nguyễn Hữu C đồng ý và đưa điện thoại cho anh Nguyễn Hữu Q. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Nguyễn Mạnh L đã trình báo Cơ quan điều tra Công an thành phố S giải quyết. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã tạm giữ các tài sản do Nguyễn Hữu C trộm cắp của anh Nguyễn Hữu L và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12P1- 075.10 Tại Biên bản định giá tài sản số 121 ngày 28/6/2019 và biên bản số 130/ĐGTSTT ngày 12/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự đã kết luận: 01 máy tính xách tay hiện Dell kèm dây sạc trị giá 2.880.000đồng, 01 điện thoại Iphone 6 trị giá 3.200.000đồng, 01 điện thoại Iphone 5S trị giá 1.800.000đồng. Tổng tài sản Nguyễn Hữu C trộm cắp của anh Nguyễn Mạnh L trị giá 7.880.000đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu C thừa nhận được thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Mạnh L như đã nêu ở trên.

Người bị hại, anh Nguyễn Mạnh L khai: Ngày 26/6/2019, sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh đã trình báo Cơ quan điều tra Công an thành phố S giải quyết. Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã tìm thấy và trả lại cho anh các tài sản bị trộm cắp nêu trên nên anh không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Anh Nguyễn Sơn A khai: khoảng 14 giờ ngày 26/6/2019, Nguyễn Hữu C đến cửa hàng điện thoại của anh tại số 51, đường Ngô Q, phường Vĩnh Trại, thành phố S để phá mật khẩu điện thoại Iphone 6 và gửi lại cửa hàng 01 chiếc máy vi tính xách tay cùng dây sạc. Anh không biết chiếc điện thoại và chiếc máy tính xách tay đó do Nguyễn Hữu C trộm cắp mà có. Tối ngày 26/6/2019, Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã đến thu giữ chiếc máy vi tính xách tay nêu trên.

Anh Nguyễn Hữu Q khai: Chiều tối ngày 26/6/2019, Nguyễn Hữu C mang 01 điện thoại Iphone 6 đến nhà anh nói muốn bán với giá 1.300.000đồng. Anh không biết đó là điện thoại do C trộm cắp mà có nên đã mua cho vợ anh sử dụng nhưng chưa trả tiền.

Chị Đồng Thị G khai: Ngày 26/6/2019, chồng chị là Nguyễn Hữu Q chị đưa cho chị 01 điện thoại Iphone 6 để sử dụng, bảo là mới mua với người khác, chị đã cất điện thoại vào ngăn kéo tủ ti vi. Sau đó, chị cho con trai là Nguyễn Hữu Trường Y sử dụng.

Anh Nguyễn Hữu Trường Y khai khoảng 20 giờ ngày 26/6/2019, mẹ anh là Đồng Thị G nói với anh là bố anh mới mua cho mẹ anh 01 chiếc điện thoại Iphoe 6 màu vàng. Anh đã lấy điện thoại đó ra sử dụng được khoảng 20 phút thì điện thoại gần hết pin anh nên không sử dụng nữa. Một lúc sau, Công an đến nhà thu giữ chiếc điện thoại.

Cháu Nguyễn Mạnh O Khai: Ngày 26/6/2019 bố cháu là Nguyễn Hữu C mang về 01 chiếc điện thoại Iphone 5S màu vàng, cháu đã sử dụng điện thoại đó để chơi điện tử, cháu không biết đó là tài sản do bố trộm cắp mà có. Sau đó, Công an đã đến nhà thu giữ chiếc điện thoại.

Tại Cáo trạng số 134/CT-VKSTP, ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Bị hại anh Nguyễn Mạnh L vắng mặt phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt cùng nội dung không yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thành khai: Chiếc xe mô tô hiệu Favour biển kiểm soát 12P1-075.10 là của ông mua và đăng ký tên ông, ông cho bị cáo mượn để sử dụng đi uống Methadone, ông không biết bị cáo sử dụng xe vào việc trộm cắp tài sản, ông đề nghị trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hữu Q, chị Đồng Thị G, Anh Nguyễn Trường Y đều vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt và có nội dung giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không có ý kiến khác.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Lạng Sơn luận tội: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 máy tính xách tay hiệu Dell kèm dây sạc, 01 điện thoại Iphone 6, 01 điện thoại Iphone 5S đều là tài sản của anh Nguyễn Mạnh L, tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 7.880.000đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tại sản, Viện kiểm sát nhân dân thành phố S giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo; bị cáo có 01 tiền sự và có nhân thân xấu. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 08 tháng đến 10 tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 26/6/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại anh Nguyễn Mạnh L 01 máy tính xách tay hiệu Dell kèm dây sạc, 01 điện thoại Iphone 6, 01 điện thoại Iphone 5S; đề nghị trả lại ông Nguyễn Thành 01 xe mô tô hiệu Favour biển kiểm soát 12P1-075.10. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Qua đó Hội đồng xét xử thấy, ngày 26/6/2019, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 máy tính xách tay hiệu Dell kèm dây sạc, 01 điện thoại Iphone 6, 01 điện thoại Iphone 5S của anh Nguyễn Mạnh L. Tổng tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 7.880.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong trong quần chúng nhân dân.

[4] Để quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 10/02/2019 bị Công an thành phố S xử phạt 1.500.000đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 07/02/2018 bị cáo bị Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã được xoá tiền sự; những điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, lười lao động, coi thường pháp luật.

[8] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của bị cáo cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Nguyễn Mạnh Lụân đã nhận lại các tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét giải quyết.

[11] Về vật chứng: Chiếc xe mô tô hiệu Favour biển kiểm soát 12P1- 075.10 bị cáo đã sử dụng làm phương tiện thực hiện việc trộm cắp tài sản là xe của ông Nguyễn Hữu Thành cho bị cáo mượn, ông Nguyễn Hữu Thành không biết bị cáo sử dụng xe vào việc trộm cắp tài sản, vì vậy, cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Nguyễn Hữu Thành. Đối với các tài sản bị cáo trộm cắp của anh Nguyễn Mạnh L gồm: 01 máy tính xách tay hiệu Dell kèm dây sạc, 01 điện thoại Iphone 6, 01 điện thoại Iphone 5S, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã trả lại cho anh Nguyễn Mạnh L.

[12] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố S về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Đối với anh Nguyễn Sơn Hà, anh Nguyễn Hữu Q, chị Đồng Thị G, Anh Nguyễn Trường Y, Nguyễn Mạnh O không biết các tài sản: máy tính xách tay hiệu Dell, điện thoại Iphone 6, điện thoại Iphone 5S là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[15] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[16] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 26/6/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Trả lại cho ông Nguyễn Hữu Thành 01 xe mô tô hiệu Favour biển kiểm soát 12P1-075.10.

(Vật chứng nêu trên được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo đối với phần bản án có liên quan đền quyền lợi, nghĩa vụ của mình).


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2019/HS-ST ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:152/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về