Bản án 14/2019/HS-ST ngày 21/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 21/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/TLST-HS, ngày 31 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Huỳnh Nhật N, sinh năm 1985, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số a, đường b, tổ c, khóm d, phường e, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Tấn Nghĩa, sinh năm 1945 và bà Lê Ngọc Thành, sinh năm 1949; Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền sự: Ngày 22/01/2016, bị Công an phường 1, thành phố Cao Lãnh xử phạt 750.000 đồng về hành vi say rượu bia gây rối trật tự công cộng (chưa nộp phạt); Tiền án: 04 tiền án; Ngày 26/02/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Dâm ô đối với trẻ em”, chấp hành xong ngày 30/9/2009; Ngày 2/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 17/4/2012; Ngày 20/9/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 13/12/2015; Ngày 17/3/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 2/6/2018; Tạm giữ: Ngày 12/12/2018; Tạm giam: Ngày 18/12/2018. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Có mặt

Bị hại:

1/ Nguyễn Công Duyên, sinh năm 1977. Có mặt

Nơi cư trú: Tổ 21, khóm 3, phường 4, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

2/ Thái Thị Hồng Nhung, sinh năm 1988. Vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ 5, ấp 1, xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Người làm chứng: Võ Văn Út, sinh năm 1980. Vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ 30, khóm 4, phường 6, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/12/2018, sau khi uống rượu xong thì Nam nảy sinh ý định đi tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài, Nam một mình đi bộ từ nhà đến trường Nguyễn Công Trứ hướng từ quán “Sơn Râu” ra cầu Cái Sâu thuộc khu vực phường 4, thành phố Cao Lãnh phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 66K1-137.85 của anh Võ Văn Út, sinh năm 1980 đang để tại tiệm rửa xe “Tín” thuộc tổ 21, khóm 3, phường 4, thành phố Cao Lãnh do anh Nguyễn Công Duyên, sinh năm 1977 làm chủ. Nam thấy trên xe còn gắn chìa khóa, quan sát không thấy người trông coi nên đi lại dẫn xe ra đường và khởi động chạy đến huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, Nam đem xe qua Campuchia bán cho mộ người đàn ông không rõ nhân thân với giá 6.000.000 đồng, số tiền này Nam sử dụng tiêu xài cá nhân.

Ngoài ra trong quá trình điều tra Nam khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11/10/2018, với mục đích đi tìm tài sản ở các nhà trọ không người trông coi để lấy trộm tài sản. Nam đi đến nhà trọ “Thuận An 98” và nhà trọ “Tuấn Dương” ở tổ 9, khóm Thuận An, phường Hòa Thuận, thành phố Cao Lãnh. Tại nhà trọ “Tuấn Dương” Nam thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda F1, màu vàng-đen-xám, biển số 66P1-204.38 của chị Thái Thị Hồng Nhung, sinh năm 1988, ngụ tổ 5, ấp 1, xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh đang đậu trong khuôn viên trước nhà trọ. Nam đi vào dẫn xe ra khỏi nhà trọ, rồi lên xe chạy về hướng lên huyện Thanh Bình. Trên đường đi, Nam dự định không bán xe mà để lại phương tiện đi lại, vì thế Nam ghé vào tiệm sửa xe trên Quốc lộ 30, thuộc phường 11, thành phố Cao Lãnh hỏi mượn chìa khóa vặn lỏng ốc biển số xe, sau đó chạy đến cầu Kinh Ông Kho thuộc phường 11, tháo biển số vứt bỏ xuống sông. Nam tiếp tục điều khiển xe lên chợ thị trấn Thanh Bình mua kéo ván xe đem về nhà dán xe và gắn biển số giả 66L1-372.84 để sử dụng đến khi bị phát hiện và bắt giữ cùng tang vật.

Tại kết luận định giá tài sản số 127/KL-ĐGTS ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda F1, màu vàng-đen-xám, biển số 66P1-204.38, trị giá 20.000.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 128/KL-ĐGTS ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 66K1-137.85, trị giá 23.000.000 đồng.

Ngày 21/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả lại xe mô tô, nhãn hiệu Honda F1, màu vàng-đen-xám, không có biển số cho chị Thái Thị Hồng Nhung, chị Nhung nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đối với xe Honda nhãn hiệu Future, biển kiểm soát 66K1-137.85 do anh Phan Văn Giang, sinh năm 1988, ngụ ấp An Thọ, xã An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu. Xe trên, anh Giang đã bán cho anh Võ Văn Út, có làm giấy mua bán ngày 02/5/2018. Đến nay, anh Út chưa làm thủ tục sang tên. Tại thời điểm Nam thực hiện hành vi phạm tội, xe trên anh Duyên đang quản lý. Anh Duyên yêu cầu Nam bồi thường cho anh giá trị chiếc xe định giá là 23.000.000 đồng, Nam đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Công Duyên sau khi chấp hành án xong. Riêng anh Duyên và anh Út đã tự thương lượng thỏa thuận bồi thường thiệt hại về xe trong quá trình quản lý để rửa xe, không yêu cầu giải quyết.

Đối với biển số 66L1-372.84, Nam gắn vào xe để sử dụng. Ngày 03/01/2019, Công an giao thông tỉnh Đồng Tháp xác minh biển số 66L1-372.84 là biển số của anh Huỳnh Văn Rơi, ngụ Đông Hưng, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, xe trên anh Rơi đã chuyển vùng từ tỉnh Đồng Tháp về tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/7/2018. Do đó, biển số xe 66L1-372.84 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSND-TPCL, ngày 31/01/2019, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Huỳnh Nhật N về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh rút lại phần truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự xuống khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Huỳnh Nhật N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật N mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc Huỳnh Nhật N bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Công Duyên 23.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy biển số 66L1-372.84 Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Huỳnh Nhật N xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Huỳnh Nhật N có 01 tiền sự về hành vi “ Say rượu bia gây rối trật tự công cộng”, 04 tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Dâm ô đối với trẻ em”. Nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không từ bỏ con đường phạm tội, bản thân không có nghề nghiệp, với bản chất lười lao động, tham lam, nên khi thấy tài sản của người bị hại không quản lý thì bị cáo thực hiện tội phạm nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

[3] Tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định bị cáo Huỳnh Nhật N là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Võ Văn Út gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 66K1-137.85 trị giá 23.000.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Nam còn trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda F1, màu vàng-đen-xám, biển số 66P1- 204.38 của chị Thái Thị Hồng Nhung trị giá 20.000.000 đồng.

Tại phiên Tòa, bị cáo khai nhận, do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định trộm tài sản bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân và trang trãi cho gia đình, bị cáo đi tìm tài sản của người bị hại, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản không có người trông coi thì bị cáo liền thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp trót lọt 02 chiếc xe của anh Út và chị Nhung.

Việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nam ra trước phiên tòa về hành vi phạm tội như đã nêu trên là có căn cứ, cũng như lời luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo là đúng và phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận lời luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo Nam là đúng và hành vi của bị cáo là có tội.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1/ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Nhật N đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là việc làm cần thiết.

Bị cáo Huỳnh Nhật N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng do bản thân không có nghề nghiệp ổn định, bản tính tham lam, nên đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Do đó, bị cáo Huỳnh Nhật N phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc Huỳnh Nhật N bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Công Duyên 23.000.000 đồng.

[7] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy biển số 66L1-372.84 luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp. 

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Nhật N phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Nhật N 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2018

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc Huỳnh Nhật N bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Công Duyên 23.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy biển số 66L1-372.84 Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người bị hại mà bị cáo chưa thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi bằng 50% mức lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương đương với thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Huỳnh Nhật N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HS-ST ngày 21/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:14/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về