Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 16/01/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 16/01/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 16 tháng 01 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm vụ án dõn sự thụ lý số: 439/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2019/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thương- Sinh năm 1981 (Có mặt).

* Bị đơn Anh Lý Văn P - Sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Đều trú tại: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 17/10/2019, tại bản tự khai, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trần Thị Thương trình bày:

Chị và Anh Lý Văn P kết hôn với nhau từ ngày 15/11/1998 (Âm lịch).

Trước khi kết hôn có được tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đến UBND xã đăng ký kết hôn theo quy định. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại Thôn C, xã K, huyện L. Ban đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến nay chị và Anh P cũng chưa đi đăng ký kết hôn tại UBND xã theo quy định của pháp luật.

Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2010, đến tháng 11/2018 thì mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Anh P thường xuyên uống rượu về đánh đập, chửi bới, xúc phạm chị, chị có khuyên bảo nhưng Anh P không nghe. Vì vậy chị đã bỏ đi làm ăn và sống ly thân Anh P từ đó đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn Anh Lý Văn P.

* Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 02 con chung là Lý Thị N, sinh ngày 21/10/1999 và Lý Hồng Ng, sinh ngày 01/5/2002. Nay con chung là Lý Thị N đã trưởng thành, trên 18 tuổi và xây dựng gia đình riêng nên chị không có đề nghị gì. Con chung là Lý Hồng Ng hiện đang ở với Anh P, sau khi ly hôn con có nguyện vọng ở với Anh P, Anh P nhận trách nhiệm nuôi con và không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con cùng thì chị không có ý kiến gì và sẽ có trách nhiệm với con sau.

* Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T xác định chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

*Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn là anh Lý Văn P trình bày:

Anh và chị Trần Thị T kết hôn với nhau từ ngày 15/11/1998 (Âm lịch). Trước khi kết hôn có được tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đến UBND xã đăng ký kết hôn theo quy định. Sau ngày cưới, vợ chồng anh về chung sống cùng nhau ngay tại Thôn C, xã K, huyện L. Ban đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến nay anh chị cũng chưa đi đăng ký kết hôn tại UBND xã theo quy định của pháp luật.

Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 11/2018 (Âm lịch), nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, nên hay xảy ra tranh cãi. Vì vậy chị T bỏ nhà đi sống ly thân anh từ tháng 11/2018 đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị Trần Thị T xin ly hôn thì anh hoàn toàn nhất nhất trí.

* Về con chung: Anh P xác định vợ chồng có hai con chung vợ chồng có 02 con chung là Lý Thị N, sinh ngày 21/10/1999 và Lý Hồng Ng, sinh ngày 01/5/2002. Nay con chung là Lý Thị N đã trưởng thành, trên 18 tuổi và xây dựng gia đình riêng nên anh không có đề nghị gì. Con chung là Lý Hồng Ng hiện đang ở với anh, sau khi ly hôn con có nguyện vọng ở với anh, anh nhận trách nhiệm nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con cùng.

* Về tài sản chung, công nợ chung: Anh P xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, cháu Lý Hồng Ng là con chung của chị T Anh P trình bày: Cháu là con của mẹ Trần Thị T và bố Lý Văn P. Cháu có biết việc bố mẹ cháu mâu thuẫn hay xảy ra cãi nhau nên mẹ cháu có gửi đơn lên Tòa án. Cháu yêu quý cả hai bố mẹ, cháu muốn bố mẹ cháu về chung sống cùng nhau. Nhưng nếu bố mẹ cháu không chung sống cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được ở với bố Phát. Đề nghị Tòa án chấp nhận nguyện vọng của cháu.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng Điều 9; khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53, Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 227; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị T và Anh Lý Văn P là vợ chồng.

- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Lý Hồng Ng, sinh ngày 01/5/2002 cho Anh Lý Văn P nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Trần Thị T. Sau khi ly hôn, chị T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp đủ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0001010 ngày 25/10/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng vào phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có nơi cư trú tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn là Anh Lý Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và Anh Lý Văn P kết hôn cùng nhau từ ngày 15/11/1998 (Âm lịch). Trước khi kết hôn anh chị có được tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, nhưng không đi đăng ký kết hôn tại UBND xã . Trong quá trình chung sống từ đó đến nay, chị T và Anh P không đi đăng ký kết hôn tại UBND xã là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T và Anh P sống ly thân nhau đã lâu. Chị T có đơn xin ly hôn Anh P, do hai người chung sống cùng nhau nhưng không có đăng ký kết hôn nên cần áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình xử không công nhận chị Trần Thị T và Anh Lý Văn P là vợ chồng.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị T và Anh Lý Văn P đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Lý Thị N, sinh ngày 21/10/1999 và Lý Hồng Ng, sinh ngày 01/5/2002. Sau khi ly hôn, do con chung là Lý Thị N đã trưởng thành, trên 18 tuổi và xây dựng gia đình riêng nên anh, chị không có đề nghị gì. Con chung là Lý Hồng Ng hiện đang ở với Anh P, sau khi ly hôn con có nguyện vọng ở với Anh P, Anh P nhận trách nhiệm nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con cùng thì chị T không có ý kiến gì. Để đảm bảo quyền lợi của con chung Hội đồng xét xử giao con chung là Lý Hồng Ng, sinh ngày 01/5/2002 cho Anh P được nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Trần Thị T. Sau khi ly hôn chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị T và Anh Lý Văn P cùng không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 9; khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị T và Anh Lý Văn P là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao con chung là Lý Hồng Ng, sinh ngày 01/5/2002 cho Anh Lý Văn P nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Trần Thị T. Sau khi ly hôn, chị T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp đủ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0001010 ngày 25/10/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.5. Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án xét xử vắng mặt.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 16/01/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về