Phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% đối với giáo viên mầm non và phổ thông công lập từ 1/1/2026 đúng không?

11:12 | 14/03/2026
Phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% đối với đối với giáo viên mầm non và phổ thông công lập từ 1/1/2026 đúng không? Hỗ trợ người học và đào tạo nhân lực trình độ cao như thế nào? Ưu đãi đầu tư cho giáo dục và đào tạo hiện nay ra sao?
Nội dung chính
  1. Phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% đối với đối với giáo viên mầm non và phổ thông công lập từ 1/1/2026 đúng không?
  2. Hỗ trợ người học và đào tạo nhân lực trình độ cao như thế nào?
  3. Ưu đãi đầu tư cho giáo dục và đào tạo hiện nay ra sao?

Phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% đối với đối với giáo viên mầm non và phổ thông công lập từ 1/1/2026 đúng không?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 248/2025/QH15 có quy định như sau:

Phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục
...
2. Chính sách đặc thù, vượt trội về đãi ngộ đối với nhân lực trong ngành giáo dục được quy định như sau:
a) Phụ cấp ưu đãi nghề được thực hiện theo lộ trình do Chính phủ quy định đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập với mức tối thiểu 70% đối với giáo viên, tối thiểu 30% đối với nhân viên và 100% đối với giáo viên công tác tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
b) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được tự chủ quyết định mức thu nhập tăng thêm cho nhà giáo, viên chức và người lao động từ nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước cấp được để lại theo quy định của pháp luật, phù hợp với quy chế chi tiêu nội bộ và kết quả hoạt động của đơn vị.

Theo đó, chính thức áp dụng phụ cấp ưu đãi nghề được thực hiện theo lộ trình do Chính phủ quy định đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập với mức tối thiểu 70% đối với giáo viên từ 1/1/2026.

Phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% đối với giáo viên mầm non

Phụ cấp ưu đãi nghề tối thiểu 70% đối với giáo viên mầm non và phổ thông công lập từ 1/1/2026 đúng không? (Hình từ Internet)

Hỗ trợ người học và đào tạo nhân lực trình độ cao như thế nào?

Căn cứ theo Điều 5 Nghị quyết 248/2025/QH15 có quy định về việc hỗ trợ người học và đào tạo nhân lực trình độ cao, cụ thể như sau:

(1) Người học được tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội để trang trải chi phí học tập, sinh hoạt theo quy định của pháp luật.

Chính phủ xem xét, trình cấp có thẩm quyền ưu tiên cơ chế bổ sung nguồn vốn cho Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện chính sách tín dụng cho người học tại Ngân hàng chính sách xã hội theo quy định của pháp luật.

(2) Chính phủ quy định về chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian. Nghiên cứu sinh tham gia chương trình trọng điểm theo đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước gắn với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên của quốc gia được cấp học bổng và hỗ trợ kinh phí sinh hoạt.

(3) Chính sách hỗ trợ đối với giáo dục, đào tạo các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao thành tích cao được quy định như sau:

- Phát hiện, tuyển chọn, ươm tạo tài năng từ sớm theo lộ trình liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo; gắn đào tạo với thành tích, nhu cầu phát triển quốc gia và hội nhập quốc tế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho nghệ thuật truyền thống;

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng đào tạo dài hạn đối với cơ sở giáo dục, cơ sở đào tạo trong nước có đào tạo ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao thành tích cao; cho phép tính đủ chi phí đặc thù vào đơn giá đặt hàng theo quy định;

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có đào tạo ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao thành tích cao được ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ với nghệ nhân, nghệ sĩ, huấn luyện viên; kinh phí chi trả theo hợp đồng, phụ cấp ưu đãi nghề và các khoản chi nhiệm vụ theo quy định được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, các nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở đào tạo; người ký hợp đồng được tham gia bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn theo quy định của pháp luật.

Ưu đãi đầu tư cho giáo dục và đào tạo hiện nay ra sao?

Căn cứ theo Điều 6 Nghị quyết 248/2025/QH15 có quy định về việc ưu đãi đầu tư cho giáo dục và đào tạo hiện nay như sau:

(1) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ sung các dự án đầu tư trung hạn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo và bổ sung kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt mà không phải chờ đến kỳ điều chỉnh tiếp theo. Trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất đối với các dự án này được thực hiện theo thủ tục rút gọn do Chính phủ quy định.

(2) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ưu tiên bố trí đủ quỹ đất cho cơ sở giáo dục và đào tạo trong quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; ưu tiên bố trí quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước được giao quản lý, trụ sở công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; cho phép tổ chức, cá nhân thuê trụ sở công dôi dư và công trình thuộc sở hữu nhà nước để hoạt động giáo dục và đào tạo.

(3) Cho phép sử dụng đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp không phải là công trình giáo dục và đào tạo, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích giáo dục và đào tạo không phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

(4) Nhà nước bảo đảm chi đủ tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo; bố trí ngân sách từ nguồn tăng thu cho phát triển giáo dục và đào tạo, ưu tiên đối với khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Lê Anh Thư Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tài chính nhà nước Xem thêm

Pháp luật
Việc nộp tiền bồi thường nhiều lần đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí được thực hiện khi nào?

Nguyên tắc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phải thực hiện bồi thường một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định về bồi thường thiệt hại trừ trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện sau theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 267/2026/NĐ-CP.

Bài viết mới nhất