Lý do đề xuất tăng lương cơ sở lên khoảng 2.700.000 đồng từ 1/7/2026? Thông tin tăng lương mới nhất 2026?
Trước đó, dự kiến tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 sẽ tăng lên mức 2.530.000 đồng/tháng, thay thế cho mức 2.340.000 đồng/tháng áp dụng từ ngày 01/7/2024 tại Nghị định 73/2024/NĐ-CP.
Nếu dự thảo Nghị định quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được thông qua, dự thảo Nghị định sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Tải về dự thảo Nghị định
Tải về dự thảo Thông tư Hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở
Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Theo đó, ĐQBH đã đề xuất tăng lương cơ sở lên khoảng 2.700.000 đồng từ 1/7/2026. Chi tiết như sau:
Đề xuất tăng lương cơ sở lên khoảng 2.700.000 đồng từ 1/7/2026 mới nhất: Phát biểu về tiến trình cải cách chính sách tiền lương, đại biểu Thạch Phước Bình – Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long khẳng định, việc điều chỉnh mức lương cơ sở không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có những bước điều chỉnh tích cực khi nâng mức lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng, 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không còn là “có tăng hay không”, mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công. Đại biểu Thạch Phước Bình đánh giá mức 2,53 triệu đồng/tháng từ 1/7/2026 là một bước tăng hợp lý về mặt kỹ thuật, nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm đời sống cho đa số người làm khu vực công. Đại biểu nêu thực tế, một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng (trước khi trừ bảo hiểm). Trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến khoảng 6-7 triệu đồng/tháng. Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản. Hệ quả là, người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung; giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Do đó, mức 2,53 triệu đồng chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống. Mặt khác, từ ngày 01/01/2026, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp đã lên 5,31 triệu đồng ở vùng I, 4,73 triệu ở vùng II, 4,14 triệu ở vùng III, 3,70 triệu ở vùng IV; bình quân 4 vùng là khoảng 4,47 triệu đồng/tháng. Nếu lấy mức lương cơ sở mới 2,53 triệu nhân với hệ số khởi điểm thấp thường gặp 1,86, tiền lương theo công thức cũ chỉ khoảng 4,706 triệu đồng/tháng; với hệ số 2,10 thì khoảng 5,313 triệu đồng/tháng. Nói cách khác, người ở nhóm thấp nhất chỉ vừa nhỉnh hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân, còn người nhóm 2,10 chỉ vừa chạm ngưỡng vùng I. Với mặt bằng chi phí đô thị, đó là mức “cầm cự”, chưa phải mức “bảo đảm cuộc sống ổn định”. Bên cạnh đó, áp lực chi tiêu cũng không hề nhỏ. Ngay trong năm 2025, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung, như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,30%, còn thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Điều này rất quan trọng vì đây là các khoản chi “khó né” của hộ gia đình công chức, viên chức. Vì vậy, dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn có thể là “đỡ hơn trước” chứ chưa đạt mức an tâm, nhất là khi còn nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế. Từ các phân tích thực tiễn về thu nhập và chi phí sống, đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng, mức 2,65 – 2,70 triệu đồng/tháng như một phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Về mặt thu nhập thực tế, với mức này người có hệ số 1,86 có thể đạt khoảng 4,9 – 5,0 triệu đồng/tháng, người hệ số 2,1 đạt trên 5,5 triệu đồng/tháng. So với mức 2,53 triệu thì thu nhập tăng thêm khoảng 200.000 – 400.000 đồng/tháng. Đây là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm thu nhập thấp. Quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp; giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu. Về mặt đời sống và tâm lý xã hội, mức tăng lên 2,65 – 2,70 triệu đồng tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn “sống được bằng lương” ở đô thị lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng: giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương; tạo cảm nhận rõ ràng về sự cải thiện thu nhập, thay vì chỉ “tăng danh nghĩa”; góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh giá các mặt hàng thiết yếu như nhà ở, y tế, điện nước tăng nhanh hơn CPI chung, thì việc tăng lương ở mức đủ lớn để “cảm nhận được” là rất cần thiết. Về mặt cân đối ngân sách, đại biểu Thạch Phước Bình phân tích, mức 2,65 - 2,70 triệu có ưu điểm không tạo áp lực quá lớn lên ngân sách nhà nước; có thể thực hiện nếu đi kèm tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công, giảm các khoản chi kém hiệu quả. Điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống. |

Lý do đề xuất tăng lương cơ sở lên khoảng 2.700.000 đồng từ 1/7/2026? Thông tin tăng lương mới nhất 2026? (Hình từ Internet)
Khi nào bỏ lương cơ sở xây dựng 5 bảng lương mới?
Tại Mục 5 Kết luận 83-KL/TW năm 2024, Bộ Chính trị có kết luận nội dung một số nội dung về thời điểm cải cách tiền lương xây dựng 5 bảng lương mới theo vị trí việc làm như sau:
Tổ chức thực hiện
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp căn cứ Kết luận này khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
...
5.2. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì sơ kết việc thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, trong đó phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ và các ban, bộ, ngành có liên quan nghiên cứu đánh giá sự phù hợp, tính khả thi và đề xuất việc thực hiện 5 bảng lương và 9 chế độ phụ cấp mới của khu vực công cho phù hợp để trình Trung ương xem xét sau năm 2026 khi Bộ Chính trị ban hành và triển khai thực hiện hệ thống Danh mục vị trí việc làm trong hệ thống chính trị.
...
Như vậy theo nội dung trên thì dự kiến bảng lương mới cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm sẽ thực hiện sau năm 2026 sau khi khi Bộ Chính trị ban hành và triển khai thực hiện hệ thống Danh mục vị trí việc làm trong hệ thống chính trị.
Theo Nghị quyết 27-NQ/TW năm 2018 thì sẽ xây dựng, ban hành hệ thống 5 bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.
Đồng thời, theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW năm 2018 có nêu các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới gồm:
Xác định các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới
- Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới.
...
Như vậy, Trung ương chốt sau 2026 khi cải cách tiền lương xây dựng 5 bảng lương mới theo vị trí việc làm sẽ không tăng lương cơ sở mà thay vào đó sẽ bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới.
Đối tượng áp dụng mức lương cơ sở hiện nay là ai?
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 73/2024/NĐ-CP người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm:
- Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019);
- Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019);
- Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật Viên chức 2010 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019)
- Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định 111/2022/NĐ-CP về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP;
- Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định 45/2010/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 33/2012/NĐ-CP);
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân;
- Người làm việc trong tổ chức cơ yếu;
- Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân;
- Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];