Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?

Nguyễn Văn Phú 5,277 lượt xem
10:54 | 14/05/2026
Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Trong đó, có hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026.
Nội dung chính
  1. Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?
  2. Nguyên tắc thi hành án dân sự quy định ra sao theo Luật Thi hành án dân sự 2025 mới nhất?
  3. Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ra sao?

Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?

NÓNG: Đã có Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026

Ngày 28/4/2026, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Trong đó, nêu rõ nội dung hướng dẫn vướng mắc trong xét xử lĩnh vực Dân sự 2026.

Theo đó, tại nội dung Mục II Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026, Tòa án nhân dân tối cao đã giải hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 chi tiết gồm 18 vướng mắc như sau:

(1) Câu hỏi 25. Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm thì việc giải thích bản án sẽ do Tòa án cấp sơ thẩm hay Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện?

Điều 486 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

“1. Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản Tòa án đã ra bản án, quyết định, giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán đã ra quyết định hoặc Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án thì Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án...”

Như vậy, theo quy định nêu trên thì Thẩm phán đã ra quyết định hoặc Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định của mình. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án thì Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án.

Trường hợp người có quyền yêu cầu có văn bản yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải thích bản án, quyết định phúc thẩm hoặc giải thích bản án, quyết định phúc thẩm và bản án, quyết định sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định phúc thẩm.

Trường hợp người có quyền yêu cầu có văn bản yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải thích bản án, quyết định sơ thẩm hoặc giải thích bản án, quyết định sơ thẩm và bản án, quyết định phúc thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm chỉ có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định sơ thẩm.

(2) Câu hỏi 26. Trong vụ án dân sự, bị đơn A là người cao tuổi có đơn gửi Tòa án xin miễn án phí. Quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn A chết và Tòa án đã đưa B vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn A (B không thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí). Nếu Tòa án xác định bị đơn A được miễn nộp tiền án phí thì B có được miễn án phí hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì:

“Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”.

Như vậy, đối với trường hợp nêu trên, nếu Tòa án xác định bị đơn A được miễn nộp tiền án phí, B là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn A thì B được miễn án phí.

(3) Câu hỏi 27. Khi khởi kiện những người thừa kế để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thì người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản. Trong trường hợp này Tòa án thụ lý vụ án hay trả lại đơn khởi kiện vì thuộc trường hợp “chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015?

Điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

“b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;”

Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:

“Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.

Như vậy, tại thời điểm khởi kiện người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản thì không thuộc trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Tòa án vẫn phải xem xét thụ lý vụ án.

Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo quy định của pháp luật.

(4) Câu hỏi 28. Trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, người đại diện theo pháp luật của Công ty đã ký giấy ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thay mặt Công ty tham gia tố tụng. Sau đó, người đại diện theo pháp luật của Công ty chết thì giấy ủy quyền tham gia tố tụng của Công ty còn hiệu lực pháp luật không?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền và đại diện theo ủy quyền chỉ chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự 2015.

Do trường hợp người đại diện theo pháp luật của Công ty đã ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác tham gia tố tụng nhưng sau đó người đại diện theo pháp luật của Công ty chết không thuộc một trong các trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự 2015 nên việc ủy quyền trong trường hợp này vẫn còn hiệu lực.

(5) Câu hỏi 29. Trong vụ án kinh doanh, thương mại, bị đơn là Công ty cổ phần X nhưng người đại diện theo pháp luật duy nhất của công ty đã chết. Các cổ đông sáng lập không cử được người đại diện của công ty để tham gia tố tụng. Trường hợp này, Tòa án có đưa tất cả các cổ đông sáng lập tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện của công ty không?

Căn cứ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 12, khoản 2 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020 (được sửa đổi bởi Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025) thì trường hợp này bị đơn là công ty cổ phần chỉ có một người đại diện theo pháp luật duy nhất, nhưng người đại diện theo pháp luật của công ty đã chết thì Hội đồng quản trị công ty cổ phần phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Nếu Hội đồng quản trị không cử được người khác làm đại diện theo pháp luật của công ty thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020 để chỉ định người đại diện theo pháp luật của công ty tham gia tố tụng tại Tòa án mà không đưa tất cả các cổ đông sáng lập tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện của công ty.

(6) Câu hỏi 30. Khoản 7 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Tòa án có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật vi phạm pháp luật hình sự, doanh nghiệp không thay đổi thông tin đăng ký kinh doanh nên không có người đại diện theo pháp luật; Tòa án yêu cầu nhưng doanh nghiệp không cung cấp điều lệ, danh sách thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên... hoặc có trường hợp nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên đã hết nhưng doanh nghiệp không tổ chức đại hội để bầu Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên mới. Vậy trong các trường hợp này, Tòa án cần chỉ định ai là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khoản 7 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015 thì trong trường hợp này Tòa án phải yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Trường hợp họ không cung cấp được thì Tòa án yêu cầu Cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp thông tin về đăng ký kinh doanh, điều lệ của doanh nghiệp. Trên cơ sở tài liệu được cung cấp, Tòa án chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu giải quyết vụ việc. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được Tòa án chỉ định tham gia tố tụng có thể là một trong số nhiều người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật); trường hợp doanh nghiệp không có người đại diện theo pháp luật thì Tòa án có quyền chỉ định người đang được giao quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp... làm đại diện cho doanh nghiệp tham gia tố tụng.

(7) Câu hỏi 31. Trường hợp giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là vàng thì Tòa án quyết định các cá nhân thanh toán cho nhau bằng vàng hay là quy đổi vàng thành tiền. Trường hợp Tòa án quyết định việc thanh toán bằng vàng thì có tuyên lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ không?

Khoản 1 và khoản 2 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.

Trong trường hợp nêu trên, do đối tượng của hợp đồng vay là vàng, nên Tòa án phải giải quyết buộc bên vay trả lại cho bên cho vay số vàng đã vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bảo đảm đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án vẫn quy đổi vàng thành tiền theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí, chi phí tố tụng.

Trong trường hợp Tòa án quyết định bên vay trả lại vàng cho bên cho vay thì không quyết định bên vay phải chịu lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp hợp đồng vay tài sản là vàng có thỏa thuận lãi thì nghĩa vụ trả lãi được thực hiện theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.

(8) Câu hỏi 32. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và Doanh nghiệp, Doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhiều năm không nộp thuế cho Nhà nước, đã dừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa giải thể, chưa tuyên bố phá sản. Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho Doanh nghiệp. Trường hợp này Tòa án giải quyết như thế nào?

Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) không quy định cụ thể các trường hợp doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động.

Tuy nhiên, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 16, điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020, điểm a và b khoản 2 Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thuộc trường hợp phải chấm dứt hoạt động kinh doanh, bị giải thể (trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác).

Do đó, trường hợp này Tòa án phải căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xác định người đại diện của doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tham gia tố tụng và thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng.

Trường hợp doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng. Doanh nghiệp thuộc trường hợp bị giải thể thì còn phải đưa người quản lý có liên quan vào tham gia tố tụng.

(9) Câu hỏi 33. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, Ngân hàng khởi kiện vợ chồng chị A, anh B yêu cầu trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã vay và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là tài sản chung của vợ chồng. Anh B đang ở nước ngoài, thường xuyên liên lạc với chị A và biết việc Ngân hàng yêu cầu trả nợ, xử lý tài sản thế chấp. Tòa án đã yêu cầu chị A cung cấp địa chỉ của anh B tại nước ngoài và đề nghị chị A thông báo cho anh B về việc Tòa án đã thụ lý vụ án, yêu cầu anh B cung cấp địa chỉ ở nước ngoài, có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án về việc Ngân hàng khởi kiện, nhưng chị A không cung cấp địa chỉ của anh B cho Tòa án và anh B cũng không cung cấp địa chỉ ở nước ngoài, không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án. Trường hợp này Tòa án giải quyết như thế nào?

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì trường hợp này Tòa án phải xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

(10) Câu hỏi 34. Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập. Tuy nhiên, sau khi Chủ tọa phiên tòa kết thúc phần thủ tục, chuyển sang phần tranh tụng tại phiên tòa thì bị đơn không trình bày mà tự ý rời khỏi phòng xử án và bỏ về. Trường hợp này Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa hay tiếp tục tiến hành xét xử?

Khoản 1 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định

“Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật này. Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa”.

Khoản 7 Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định

“Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng...”.

Như vậy, bị đơn tự ý bỏ về không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không thuộc trường hợp hoãn phiên tòa quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

(11) Câu hỏi 35. Trong vụ án dân sự mà đương sự có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc khi Tòa án xét thấy cần thiết phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án quyết định tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho đương sự. Trường hợp này đương sự có phải chịu án phí đối với việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?

Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định:

“1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.
2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”.

Theo quy định Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của đương sự không phải là yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập.

Do đó, trường hợp Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đương sự không phải chịu án phí đối với yêu cầu này.

(12) Câu hỏi 36. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay và lãi vay. Trường hợp có căn cứ xác định bị đơn đã trả tiền lãi nhiều hơn so với tiền lãi vay và sau khi dùng số tiền dư thanh toán khoản nợ gốc thì vẫn còn tiền thừa. Bị đơn yêu cầu trả lại tiền thừa thì yêu cầu này của bị đơn có phải là yêu cầu phản tố không? Nếu không là yêu cầu phản tố thì Tòa án có tuyên buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn tiền thừa hay không?

Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân 2015 sự quy định:

“2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”.

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố và Tòa án buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền thừa mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn.

(13) Câu hỏi 37. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu”, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện và giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh của Tòa án cấp sơ thẩm đã được thực hiện đúng và đầy đủ hoặc chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ. Trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hay sửa bản án sơ thẩm?

Điều 293 về phạm vi xét xử phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

“Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị”.

Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

“Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này.
2. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ”.

Như vậy, trường hợp tại Tòa án cấp sơ thẩm đương sự đã yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đương sự, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Trường hợp tại Tòa án cấp sơ thẩm đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đương sự, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên trong phần nhận định của bản án phải nêu rõ đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu bằng vụ án khác nếu họ có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

(14) Câu hỏi 38. Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và bên vay, có thể chấp tài sản quyền sử dụng đất và nhà xưởng xây dựng trên đất của bên thứ ba (bên thế chấp) để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện đòi tiền và yêu cầu phát mại tài sản thế chấp nếu bên vay không thanh toán nợ. Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện nhà xưởng đã được bên thế chấp cho thuê trước khi ký kết hợp đồng thế chấp và bên thuê vẫn đang sản xuất, kinh doanh trên diện tích đất thuê. Khi giải quyết vụ án này, cần xem xét, giải quyết như thế nào đối với hợp đồng thuê nhà xưởng?

Trong vụ án này, việc giải quyết hợp đồng thế chấp có liên quan đến hợp đồng cho thuê nhà xưởng. Khi ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà xưởng trên đất thì nhà xưởng đã được bên thế chấp cho người khác thuê. Do đó, Tòa án phải đưa bên thuê vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải xác định hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng thuê nhà xưởng và căn cứ vào nội dung thỏa thuận của các bên trong các hợp đồng, yêu cầu của các bên (bên cho vay, bên vay, bên thuê nhà xưởng) trong vụ án để giải quyết triệt để, đúng pháp luật đối với các yêu cầu này.

Trường hợp các bên (bên cho vay, bên vay, bên thuê nhà xưởng) có yêu cầu giải quyết hợp đồng thuê nhà xưởng thì Tòa án phải xem xét giải quyết.

Trường hợp các bên (bên cho vay, bên vay, bên thuê nhà xưởng) không yêu cầu xem xét hợp đồng thuê nhà xưởng thì Tòa án không xem xét hợp đồng cho thuê nhà xưởng mà chỉ giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp. Trường hợp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật thì Tòa án tuyên xử lý tài sản bảo đảm.

Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm không làm chấm dứt hợp đồng cho thuê nhà xưởng, bên thuê được tiếp tục thuê đến khi hết thời hạn hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

(15) Câu hỏi 39. Công ty P do ông A là giám đốc - đại diện theo pháp luật và Công ty K do ông B là giám đốc - đại diện theo pháp luật ký hợp đồng mua bán hàng hóa hợp pháp. Sau khi ký hợp đồng, Công ty P (bên bán) đã chuyển cho Công ty K (bên mua) số lượng hàng hóa đặt mua như thỏa thuận. Sau đó, ông B đã chuyển nhượng 100% phần vốn góp tại Công ty K cho ông C; ông C trở thành giám đốc - đại diện theo pháp luật của Công ty K. Do Công ty K không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng mua bán hàng hóa nên Công ty P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty K trả tiền. Ông C không đồng ý trả tiền cho Công ty P với lý do khi chuyển nhượng phần vốn góp giữa ông B và ông C, hai bên không bàn giao khoản nợ theo hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty P. Trường hợp này, Tòa án xác định ai là người có nghĩa vụ trả tiền?

Khoản 1 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015 quy định

“Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân...”.

Căn cứ quy định nêu trên, trong trường hợp này hợp đồng mua bán hàng hóa đã được ký kết hợp pháp giữa Công ty P (bên bán) và Công ty K (bên mua), nên trách nhiệm thanh toán tiền mua bán hàng hóa là thuộc về Công ty K chứ không phải người đại diện theo pháp luật của Công ty K.

Do đó, Công ty K có nghĩa vụ trả tiền cho Công ty P theo hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký kết giữa hai bên, không phụ thuộc vào việc Công ty K có thay đổi về thành viên góp vốn, đồng thời là người đại diện theo pháp luật.

(16) Câu hỏi 40. Hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt vi phạm trong trường hợp bên vay không trả nợ khi đến hạn. Vậy thỏa thuận về phạt vi phạm trong trường hợp này có phù hợp quy định của pháp luật không?

Căn cứ quy định tại Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 7, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP; khoản 1 Điều 25, khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư 06/2023/TT-NHNN) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt vi phạm trong trường hợp bên vay không trả nợ khi đến hạn thì thỏa thuận phạt vi phạm là không phù hợp với quy định của pháp luật.

(17) Câu hỏi 41. Ngân hàng A khởi kiện ông B (là chủ hộ kinh doanh) yêu cầu trả tiền vay do vi phạm hợp đồng tín dụng. Đây là vụ án dân sự hay vụ án kinh doanh, thương mại?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, khoản 3 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư 06/2023/TT-NHNN) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì trong trường hợp này khi xem xét thụ lý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Tòa án phải xem xét nội dung hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và ông B để xác định loại tranh chấp như sau:

- Trường hợp nội dung hợp đồng tín dụng thỏa thuận Ngân hàng cấp tín dụng cho ông B vay tiêu dùng cá nhân, không nhằm hoạt động kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận thì tranh chấp giữa ông B và Ngân hàng là tranh chấp dân sự.

- Trường hợp nội dung hợp đồng tín dụng thỏa thuận Ngân hàng cấp tín dụng cho ông B (là chủ hộ kinh doanh) nhằm hoạt động kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận thì tranh chấp giữa Ngân hàng A và ông B là tranh chấp kinh doanh, thương mại.

(18) Câu hỏi 42. Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”. Vậy trong vụ án tranh chấp thừa kế tài sản là bất động sản, vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (đặt cọc, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại...) thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, nơi có bất động sản hay nơi thực hiện hợp đồng có thẩm quyền giải quyết?

Theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự là tranh chấp về dân sự.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì

“Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.

Trong vụ án tranh chấp thừa kế tài sản thì quan hệ pháp luật cần giải quyết là chia thừa kế; trong vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thì quan hệ pháp luật cần giải quyết là quyền và nghĩa vụ theo giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

Đối với vụ án tranh chấp thừa kế tài sản là bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cụ thể là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.

Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn thì Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (hợp đồng đặt cọc, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại...) thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu).

Đối với những tranh chấp mà đối tượng của tranh chấp là bất động sản thì việc xác định thẩm quyền theo quy định điểm c khoản 1 Điều 39Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là Tòa án nơi có bất động sản giải quyết.

Trên đây là nội dung "Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?"

Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?

Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết? (Hình từ Internet)

Nguyên tắc thi hành án dân sự quy định ra sao theo Luật Thi hành án dân sự 2025 mới nhất?

Căn cứ Điều 4 Luật Thi hành án dân sự 2025, quy định về nguyên tắc thi hành án dân sự như sau:

(1) Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự 2025 phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trong phạm vi trách nhiệm của mình, chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp và thực hiện các quyết định về thi hành án, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên.

(2) Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án.

Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025.

(3) Lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

(4) Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự là tiếng Việt. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Trường hợp người đó là người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt hoặc là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn thì cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự phải bố trí hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bố trí phiên dịch.

(5) Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên hoặc có các hành vi vi phạm quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025 thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ra sao?

Căn cứ Điều 139 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.
2. Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng cấp.

Như vậy, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Phú Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào vợ không được hưởng tài sản thừa kế khi người chồng qua đời? Quy định cụ thể như thế nào?

Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về thừa kế di sản do người đã chết để lại. Theo đó, người vợ có thể hưởng tài sản thừa kế của chồng thông qua di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người vợ sẽ không được hưởng tài sản thừa kế.

Bài viết mới nhất