Toàn văn Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026?

Nguyễn Văn Phú 25,829 lượt xem
08:25 | 16/05/2026
VKSND tối cao đã có Công văn 1476/VKSTC-V9 năm 2026 về việc giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình. Trong đó, gồm 20 vướng mắc được VKSND tối cao giải đáp chi tiết.
Nội dung chính
  1. Toàn văn Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026?
  2. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát ra sao?
  3. Quy định về thời hạn quyết định việc truy tố theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thế nào?

Toàn văn Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026?

NÓNG: Thông tư liên tịch 04/2026/TTLT quy định chi tiết một số điều Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

>>> NÓNG: Quyết định 236/QĐ-VKSNDTC về giao chỉ tiêu Kiểm tra viên cao cấp, Kiểm tra viên chính của VKSND 2026

>>> MỚI: Công văn 250/TANDTC-PC về giải đáp vướng mắc trong công tác xét xử 2026 của tòa án nhân dân tối cao

Chi tiết nội dung giải đáp 51 vướng mắc xét xử do TANDTC giải đáp

(1) Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC

(2) Hướng dẫn vướng mắc trong xét xử vụ án Hành chính 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC

(3) Nội dung hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC

Ngày 23/3/2026, VKSND tối cao đã có Công văn 1476/VKSTC-V9 năm 2026 về việc giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.

>>> TẢI VỀ Toàn văn Công văn 1476/VKSTC-V9 năm 2026

Theo đó, thực hiện Thông báo 06/TB-VKSTC năm 2026 về Kết luận của Đồng chí Nguyễn Đức Thái, Phó Viện trưởng VKSND tối cao tại Hội nghị "Sơ kết thực hiện Chỉ thị 07/CT-VKSTC năm 2021 và Chỉ thị 05/СТVKSTC năm 2022 của Viện trưởng VKSND tối cao”, Vụ Kiểm sát án dân sự (Vụ 9) đã chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế (Vụ 14) VKSND tối cao trả lời các câu hỏi của VKSND các cấp về công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.

Cụ thể tại Công văn 1476/VKSTC-V9 năm 2026 nêu rõ nội dung giải đáp 20 vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026 như sau:

Câu hỏi 1. Đối với vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi cư trú của bị đơn hay Tòa án nơi có di sản thừa kế?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLTTDS) về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì: “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”.

Vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là bất động sản là vụ án có đối tượng tranh chấp là bất động sản. Do đó, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi có bất động sản (di sản thừa kế) đang tranh chấp.

Trường hợp di sản thừa kế gồm nhiều bất động sản ở nhiều địa phương thì áp dụng quy định về lựa chọn Tòa án có thẩm quyền theo BLTTDS.

Câu hỏi 2. Trường hợp người kháng cáo không có quyền kháng cáo theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 mà Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận đơn kháng cáo và chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm xử lý như thế nào (trước và sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm)?

Trả lời:

- Khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận đơn kháng cáo và hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến mà phát hiện người kháng cáo không có quyền kháng cáo trước khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm ban hành văn bản trả lại đơn kháng cáo cho người kháng cáo theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 274 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Sau khi đã thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, nếu phát hiện người kháng cáo không có quyền kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đó.

Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên toà mới phát hiện người kháng cáo không có quyền kháng cáo thi Hội đồng xét xử phúc thẩm ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đó theo quy định tại khoản 2 Điều 289 BLTTDS.

Câu hỏi 3. Vợ chồng ông T, bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008. Năm 2011, ông T, bà P ly hôn. Quyết định công nhận thuận tình lỵ hôn thể hiện ông T, bà P không có tài sản chung vợ chồng. Năm 2023, ông T chết, bà P khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Tòa án căn cứ quyết định công nhận thuận tình ly hôn để xác định thửa đất không phải là tài sản chung vợ chồng của ông T, bà P có đúng không?

Trả lời:

Trường hợp này, cần xem xét trong vụ việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa ông T và bà P vào năm 2011, các bên có yêu cầu gì về tài sản chung không và kết quả Toà án giải quyết yêu cầu đó (nếu có). Nếu Quyết định công nhận thuận tình ly hôn ghi nội dung vợ chồng không có tài sản chung chỉ có ý nghĩa ghi nhận lời trình bày của các bên, thể hiện tại thời điểm ly hôn, ông T và bà P không có tài sản chung (không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng).

Đây chỉ là một trong những chứng cứ để Toà án xem xét khi giải quyết vụ án sau này. Việc Tòa án giải quyết vụ án sau chỉ căn cứ vào nội dung quyết định công nhận thuận tình ly hôn để xác định thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T, bà P trước khi ly hôn không phải là tài sản chung vợ chồng của ông T, bà P là không đúng, mà phải xem xét nguồn gốc, thời điểm hình thành tài sản, nếu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và đứng tên 2 vợ chồng thì phải xác định đây là tài sản chung theo Điều 33, 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Câu hỏi 4. Di sản của ông/bà đã chết chưa chia thừa kế thì chảu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kể di sản của ông/bà không trong trường hợp bố/mẹ cháu đã chết (tương tự, con đâu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của bố/mẹ chồng trong trường hợp người chồng đã chết không)?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 68, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định cá nhân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đó. Bố (mẹ) của cháu là người thừa kế thuộc hàng thừa kể thứ nhất của ông/bà nội (ông/bà ngoại). Trường hợp bố (mẹ) của cháu chết trước ông (bà) thì cháu là người được hưởng thừa kế thể vị theo quy định của pháp luật nên cháu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông (bà).

Trường hợp người chồng chết trước bố/mẹ chồng thì người con đâu không có quyền hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của bố/mẹ chồng nên người con dâu không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của bố/mẹ chồng, trừ trường hợp đại diện cho con chưa thành niên được hưởng thừa kế thể vị. Trường hợp bố (mẹ) của cháu chết sau ông (bà) hoặc người chồng chết sau bố/mẹ chồng thì bố (mẹ) của cháu, người chồng vẫn là người có quyền hưởng di sản thửa kế từ ông (bà) hoặc bố/mẹ chồng đã chết.

Việc bố (mẹ) của cháu và người chồng đã chết không làm mất đi tư cách người thừa kế của họ (Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế là cá nhân là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế).

Do đó, người cháu, người con dâu trong trường hợp này có quyền hưởng di sản của bố (mẹ) cháu, người chồng chính là phần di sản mà bố (mẹ) cháu, người chồng được hưởng từ ông (bà), bố/mẹ chồng.

Vì vậy, người cháu, người con dâu có quyền khời kiện yêu cầu chia di sản của ông (bà), bố/mẹ chồng để được hưởng phần di sản mà bố (mẹ) cháu, người chồng được hưởng.

Câu hỏi 5. Trong vụ án hôn nhân gia đình nguyên đơn không yêu cầu chia tài sản chung vợ chông, bị đơn có yêu cầu phản tổ chia tài sản chung. Toà án xác định tài sản tranh chấp không phải là tài sản chung vợ chồng. Trường hợp này nghĩa vụ chịu án phí được xác định như thể nào (theo khoản 5 Điều 26 hay điểm b khoản 5 Điều 27 hay điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).

Xem chi tiết nội dung giải đáp vướng mắc tại >>> Tải về

Toàn văn Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026?

Toàn văn Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026? (Hình từ Internet)

Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát ra sao?

Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP như sau:

- Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định tại các Điều 162, 167, 236 và 238 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

- Đối với quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 159, điểm b khoản 1 Điều 161, khoản 4 và khoản 5 Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu là Cơ quan điều tra ở cấp trung ương thì kiến nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, giải quyết. Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới; nếu không nhất trí thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới.

Quy định về thời hạn quyết định việc truy tố theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thế nào?

Thời hạn quyết định việc truy tố được quy định tại Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

- Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định:

+ Truy tố bị can trước Tòa án;

+ Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

+ Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can, bị hại biết việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can và gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Việc giao, nhận các văn bản nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và đưa vào hồ sơ vụ án.

Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can hoặc người đại diện của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.

- Các quyết định nêu tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định đó nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp luật và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định đúng pháp luật.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Phú Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất