Hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?

Nguyễn Văn Phú 3,621 lượt xem
10:09 | 11/05/2026
Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Trong đó, nêu rõ nội dung hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026.
Nội dung chính
  1. Hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?
  2. Khi nào được coi là “phạm tội lần đầu”?
  3. Thế nào là “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”?

Hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?

NÓNG: Đã có Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình mới nhất 2026

NÓNG: Thông tư liên tịch 04/2026/TTLT quy định chi tiết một số điều Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

MỚI: Hướng dẫn vướng mắc xét xử lĩnh vực Dân sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC

Đã có: Hướng dẫn vướng mắc trong xét xử vụ án Hành chính 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC

NÓNG: Sử dụng ma túy lần đầu bị phạt như thế nào 2026? Người sử dụng ma túy có bị phạt tù không? Sử dụng ma túy đá bị phạt như thế nào 2026?

Ngày 28/4/2026, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Trong đó, nêu rõ nội dung hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026.

>>> TẢI VỀ Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026

Theo đó, tại nội dung Mục I Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026, Tòa án nhân dân tối cao đã giải đáp 24 vướng mắc trong công tác xét xử 2026 thuộc lĩnh vực Hình sự chi tiết như sau:

(1) Câu hỏi 1: Người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình (trước ngày 01/7/2025) về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) với khối lượng ma túy rất lớn nhưng họ không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên thì họ có được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân không?

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) thì hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm tội về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.

Do đó, trường hợp này, nếu bản án không xác định người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy hoặc không xác định họ có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Tòa án xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.

(2) Câu hỏi 2: Khi xử lý vật, tiền có liên quan trong vụ án hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tổng số tiền cho vay qua nhiều lần giao dịch hay chỉ căn cứ vào số tiền gốc ban đầu để tịch thu sung quỹ nhà nước?

Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì phải tịch thu sung quỹ nhà nước đối với khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay. Theo đó, tùy từng trường hợp xử lý như sau:

- Trường hợp cho vay nhiều lần nhưng mỗi lần giao dịch có số tiền gốc là độc lập, không liên quan đến nhau thì số tiền cho vay là tổng số tiền gốc của từng lần giao dịch.

Ví dụ: Lần 1, ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với số tiền lãi là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Lần 2, ngày 05/01/2025, A lại tiếp tục cho B vay với số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày, với số tiền lãi là 7.000.000 đồng. Trường hợp này, tổng số tiền cho vay được xác định là 60.000.000 đồng.

- Trường hợp cho vay nhiều làn nhưng lần giao dịch sau có số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi của lần trước mà chưa trả thì số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu.

Ví dụ: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với lãi suất là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11.400.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 07 ngày với lãi suất 17.556.000 đồng. Trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10.000.000 đồng.

(3) Câu hỏi 3: Bị cáo thực hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định nồng độ cồn trong máu của bị cáo là 0,282mg/100ml (không xác định nồng độ cồn do nguyên nhân nào). Trường hợp này có áp dụng tình tiết “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo không?

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 thì người phạm tội bị áp dụng tình tiết này phải trong tình trạng có sử dụng rượu, bia.

Do đó, để áp dụng tình tiết này thì kết luận giám định phải xác định rõ nồng độ cồn trong máu là do sử dụng rượu, bia hoặc có căn cứ khác chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu, bia. Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này.

(4) Câu hỏi 4: Nguyễn Văn A đưa bạn gái là Nguyễn Thị B (B 15 tuổi) về phòng trọ của A. Tại phòng trọ, trong một khoảng thời gian, A đã thực hiện hành vi giao cấu với B 02 lần. Trường hợp này, A có bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” không?

Theo hướng dẫn tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 thì “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 là trường hợp người phạm tội đã thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm mà mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Do vậy, trường hợp này, nếu mỗi lần thực hiện hành vi giao cấu của A đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì A bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.

(5) Câu hỏi 5: Tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306Bộ luật Hình sự 2015 sự chỉ được áp dụng cho khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015 hay được áp dụng cho tất cả các khoản khác tại Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015?

Trường hợp nêu trên, hậu quả, quy mô của hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015.

Trong khi đó, tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015 không gắn với hậu quả, quy mô tội phạm để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015.

Như vậy, tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015 là độc lập, không bắt buộc phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015 mới được áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

(6) Câu hỏi 6: Nguyễn Văn A đủ 18 tuổi, nhiều lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục đều có sự đồng ý của Nguyễn Thị B. Trong đó có lần quan hệ tình dục khi B chưa đủ 13 tuổi và có lần quan hệ tình dục khi B đã đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Vậy A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 hay Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự 2015 hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội trên?

Đối với hành vi quan hệ tình dục khi B chưa đủ 13 tuổi thì cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015

Đối với hành vi quan hệ tình dục khi B từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự 2015

Như vậy, trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 và Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự 2015 , nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc căn cứ quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015, Tòa án cần cân nhắc đến hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, phong tục, tập quán và tình hình thực tiễn tại địa phương để xem xét, quyết định cho phù hợp.

(7) Câu hỏi 7: Trường hợp người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây rối, làm mất trật tự công cộng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 và Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015?

Trường hợp người sử dụng dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi gây rối, làm mất trật tự công cộng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự 2015.

(8) Câu hỏi 8: Về khó khăn vướng mắc đối với Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015:

- Trường hợp bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà nhờ hoặc thuê người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi trái pháp luật. Trường hợp này mặc dù đã được hướng dẫn tại Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên vẫn còn quan điểm khác nhau về xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức hay Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.

Về vấn đề này, Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao đã xác định bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà chỉ có hành vi nhờ hoặc thuê người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi trái pháp luật thì chỉ phạm Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, mà không xử lý trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Đề nghị các Tòa án thực hiện thống nhất như nội dung đã hướng dẫn.

- Trường hợp bị cáo trực tiếp tham gia làm giả 01 tài liệu sau đó đi công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao thì xác định bị cáo làm hoặc sử dụng bao nhiêu tài liệu giả để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự (tính theo bản gốc hay cả các bản sao). Bị cáo có hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu, sau đó sử dụng giấy tờ tài liệu đó vào giao dịch trái pháp luật. Vậy ngoài việc xử lý bị cáo về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, có xử lý bị cáo về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức hay không. Nếu xét xử bị cáo về 02 tội danh trên thì áp dụng 01 hình phạt chung cho cả 02 tội hay áp dụng hình phạt riêng cho mỗi tội danh sau đó tổng hợp hình phạt.

Đối với trường hợp làm giả 01 tài liệu sau đó đi công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao thì các bản sao được công chứng, chứng thực không được tính là số lượng tài liệu giả để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015. Trường hợp sử dụng các bản sao để thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Mục 2 Phần I của Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao đã xác định Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là 02 tội danh độc lập trong cùng 01 điều luật.

Do vậy, nếu các hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành 02 tội này thì bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội danh độc lập, quyết định hình phạt đối với mỗi tội sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định.

(9) Câu hỏi 9: Theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 thì người nào: (1) đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; (2) đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; (3) đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; (4) đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế mà sử dụng trái phép chất ma túy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Trường hợp, người sử dụng trái phép chất ma túy sau ngày 01/7/2025 mà đang còn một trong 04 thời hạn nêu trên thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy không? Thời điểm xác định các thời hạn nêu trên là trước ngày 01/7/2025 hay sau ngày 01/7/2025 (ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực thi hành)?

Theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 thì người nào sử dụng trái phép chất ma túy mà đang trong một trong 04 thời hạn nêu trên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy, điều luật không quy định cụ thể các thời hạn được xác định từ thời diêm nào, tuy nhiên, nếu xác định 04 thời hạn này phải từ sau ngày 01/7/2025 thì chưa phù hợp, sẽ dẫn đến hiệu lực thi hành quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 lùi sau thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

Do vậy, nếu người sử dụng trái phép chất ma túy và vẫn đang trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy không phụ thuộc vào các thời hạn đó có trước hoặc sau ngày 01/7/2025.

(10) Câu hỏi 10: Người nghiện ma túy đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng không có quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã mà lại sử dụng trái phép chất ma túy thì họ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 không?

Theo quy định tại Điều 30 Luật Phòng, chống ma túy 2021 và Điều 30 Nghị định 116/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì người nghiện ma túy đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế phải có quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Quyết định này là căn cứ, cơ sở xác định người nghiện ma túy đã hoặc đang tự nguyện cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng.

Do đó, nếu người sử dụng trái phép chất ma túy không có Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã mà lại sử dụng trái phép chất ma túy thì không có cơ sở xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.

(11) Câu hỏi 11: Nguyễn Văn A đã có 01 tiền án về Tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, sau đó A lại thực hiện 02 hành vi trộm cắp, trong đó: 01 hành vi đủ định lượng, 01 hành vi không đủ định lượng của Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản với tình tiết là tái phạm hay phạm tội 02 lần trở lên?

Đối với hành vi trộm cắp tài sản đủ định lượng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 thì A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm (phạm tội lần 01).

Đối với hành vi trộm cắp tài sản không đủ định lượng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 nhưng do trước đó A đã bị kết án về Tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm (phạm tội lần 02). Như vậy, tình tiết “đã bị kết án” được sử dụng để làm tình tiết định tội lần 02.

Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 thì không sử dụng tình tiết là dấu hiệu định tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Do vậy, trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

(12) Câu hỏi 12: Nguyễn Văn A hỏi mua chất ma túy của Nguyễn Văn B để sử dụng. B đồng ý bán chất ma túy và đã nhận tiền của A. B mua chất ma túy của C theo số lượng mà A đã đặt mua. Trên đường mang chất ma túy về giao cho A thì B bị thu giữ số ma túy trên. Trường hợp này, A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy hay tội tàng trữ trái phép chất ma túy (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt)?

Nguyễn Văn A chưa có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy, theo đó không có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Trường hợp này, Nguyễn Văn A đã đưa tiền cho Nguyễn Văn B để B mua chất ma túy nhằm bán trái phép chất ma túy cho mình. B đã mua chất ma túy của C theo số lượng mà A đã đặt mua.

Do vậy, B đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và A cũng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 với vai trò là đồng phạm.

(13) Câu hỏi 13: Vụ án có nhiều bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm một số bị cáo không kháng cáo và bản án sơ thẩm có hiệu lực đối với bị cáo này. Một số bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy toàn bộ bản án sơ thẩm (bao gồm cả phần bản án có hiệu lực) để điều tra, xét xử lại theo hướng tăng nặng hay không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của bị hại thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể: (1) Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp; (2) Tăng mức bồi thường thiệt hại; (3) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; (4) Không cho bị cáo hưởng án treo.

Đối với trường hợp này, vụ án chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo của bị hại, kháng nghị của Viện kiểm sát. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền hủy toàn bộ bản án sơ thẩm (bao gồm cả phần bản án có hiệu lực) để điều tra, xét xử lại theo hướng tăng nặng mà kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

(14) Câu hỏi 14: Nguyễn Văn A bị xử phạt 05 năm tù về Tội giết người, chấp hành hình phạt tù trong trại giam được hơn 02 năm thì bỏ trốn khỏi nơi giam, cơ quan có thẩm quyền không ra lệnh truy nã ngay mà hơn 14 năm sau mới ra lệnh truy nã, đến nay vẫn chưa bắt được. Trường hợp này A có được hưởng thời hiệu thi hành bản án hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thì “Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên”.

Trường hợp này, A đã thi hành bản án được hơn 02 năm thì bỏ trốn, nên phải xác định A là người đang chấp hành án, mà không phải là chưa chấp hành bản án (hoặc đã được hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù) để xem xét có được hưởng thời hiệu thi hành án hay không. Hơn nữa, người chấp hành án buộc phải biết việc chấp hành bản án của Tòa án. Do đó, trường hợp này A không được hưởng thời hiệu thi hành bản án.

(15) Câu hỏi 15: Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quyết định của Tòa án mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù vẫn chưa khỏi bệnh thì Tòa án giải quyết như thế nào?

Khoản 3 Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

“3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh...
Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.”

Như vậy, trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quyết định của Tòa án mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù vẫn chưa khỏi bệnh thì thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Nếu đến thời điểm hết thời hạn chấp hành án phạt tù, người đó vẫn chưa khỏi bệnh thì Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ra quyết định đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

(16) Câu hỏi 16: Nguyễn Văn A dùng xe mô tô chở Nguyễn Thị B là người dưới 16 tuổi gây tai nạn giao thông, hậu quả B chết. A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Trường hợp này, A có bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 không?

Khách thể bị xâm phạm của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015) là trật tự an toàn giao thông đường bộ. A không cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của B.

Do đó, A không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

(17) Câu hỏi 17: Trường hợp nhóm thanh, thiếu niên tụ tập, điều khiển mô tô, xe máy di chuyển tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, mang theo hung khí nguy hiểm tìm đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 134 hay điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự 2015?

Theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 và hướng dẫn tại tiểu mục 9 mục I Công văn 163/TANDTC-PC năm 2024 thì trường hợp này, nhóm thanh, thiếu niên đã chuẩn bị hung khí nguy hiểm và xác định rõ được đối tượng mình sẽ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ. Do vậy, các đối tượng này bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Nếu nhóm thanh, thiếu niên dùng hung khí nguy hiểm là vũ khí quân dụng thì các đối tượng này bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 1.2 mục 1 Công văn 01/TANDTC-PC năm 2026 của Tòa án nhân dân tối cao.

(18) Câu hỏi 18: Nguyễn Văn A có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng kíp và 100 gam thuốc nổ. A khai thuốc nổ dùng để làm mồi nổ của súng, súng kíp dùng để đi săn thú rừng. Hành vi tàng trữ 01 khẩu súng kíp của A bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Đối với hành vi tàng trữ thuốc nổ của A có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ theo quy định tại Điều 305 của Bộ luật Hình sự 2015 không?

Theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 3 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024 và hướng dẫn tại khoản 4 Điều 2 của Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 304, Điều 305, Điều 306, Điều 307 và Điều 308 của Bộ luật Hình sự 2015 thì thuốc nổ là vật liệu nổ.

Do vậy, hành vi tàng trữ 100 gam thuốc nổ của Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ theo quy định tại Điều 305 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

(19) Câu hỏi 19: Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm đối với 03 bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm 01 bị cáo đầu vụ có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt (02 bị cáo không có kháng cáo). Khi xét xử phúc thẩm, do vụ án không có kháng nghị của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo và nhận định Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt cho bị cáo có phần nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự. Do đó, để không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Trường hợp này, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực theo hướng tăng mức hình phạt đối với cả 03 bị cáo hay không?

Đối với bản án phúc thẩm đã tuyên đối với 01 bị cáo thì người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 1 Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ một một số điều năm 2025 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng hình sự); đối với bản án sơ thẩm đã tuyên đối với 02 bị cáo còn lại không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật thì người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có thể là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 1 Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khi xét thấy cần thiết hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Trường hợp nêu trên nếu Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án sơ thẩm sẽ không có thẩm quyền xem xét đối với bản án phúc thẩm đã tuyên đối với bị cáo có kháng cáo.

Do đó, để bảo đảm tính khách quan, toàn diện khi giải quyết vụ án, trường hợp này Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm, bản án sơ thẩm và căn cứ khoản 5 Điều 382 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc toàn bộ vụ án.

(20) Câu hỏi 20: Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định Tòa án ấn định thời gian thử thách cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng án treo từ 01 năm đến 03 năm. Tuy nhiên, Tòa án có được ấn định thời gian thử thách cho người phạm tội là người chưa thành niên được hưởng án treo bằng 02 lần mức hình phạt tù như người đã thành niên không?

Theo quy định tại Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 thì thời gian thử thách đối với người chưa thành niên được hưởng án treo là từ 01 năm đến 03 năm. Khi cho người chưa thành niên phạm tội hưởng án treo, Tòa án ấn định thời gian thử thách bằng mức hình phạt tù nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 03 năm.

(21) Câu hỏi 21: Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng cho Tòa án nhưng Tòa án không chấp nhận đề nghị và trả hồ sơ để giải quyết theo thủ tục tố tụng, sau đó Viện kiểm sát ra cáo trạng đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo quy định. Vậy tại giai đoạn xét xử, Tòa án có xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên nữa hay không?

Theo quy định tại khoản 6 Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 thì “Khi xét xử, nếu thấy người chưa thành niên có đủ điều kiện dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì Hội đồng xét xử xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị cáo”.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu người chưa thành niên có đủ các điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Tòa án vẫn xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với họ.

(22) Câu hỏi 22: Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định việc xin lỗi bị hại được thi hành ngay tại phiên họp hoặc tại phiên tòa. Tuy nhiên, nếu bị hại không có mặt tại phiên họp hoặc phiên tòa thì Tòa án có xem xét, quyết định áp dụng và thi hành biện pháp xử lý chuyển hướng xin lỗi bị hại đối với người chưa thành niên không?

Khoản 1 Điều 41 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định việc xin lỗi bị hại được thi hành ngay tại phiên họp hoặc phiên tòa. Đây là biện pháp để người chưa thành niên nhận lỗi trước bị hại giúp họ thay đổi nhận thức và sửa chữa sai lầm mà mình đã gây ra. Do đó, nếu tại phiên họp, phiên tòa mà bị hại vắng mặt thì Tòa án có thể hoãn phiên họp, phiên tòa.

Trường hợp bị hại có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn xem xét, quyết định áp dụng và thi hành biện pháp xử lý chuyển hướng xin lỗi bị hại.

(23) Câu hỏi 23: Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Đối với những vụ án hình sự có bị cáo là người chưa thành niên đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà đến ngày 01/01/2026 chưa giải quyết xong thì việc xử lý, áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên được thực hiện như thế nào?

Trường hợp này, Tòa án áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 để giải quyết. Theo đó, đối với những vụ việc, vụ án đang trong quá trình xét xử sơ thẩm mà đến ngày 01/01/2026 chưa kết thúc thì áp dụng quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên để giải quyết, trừ thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố hoặc thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam và việc tách vụ án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu trong giai đoạn xét xử chưa có sự tham gia của người làm công tác xã hội thì Tòa án yêu cầu người làm công tác xã hội tham gia tố tụng.

Trường hợp thời hạn xét xử sơ thẩm không đủ để áp dụng đầy đủ thủ tục xử lý chuyển hướng nhưng có căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên tại phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc tại phiên tòa.

(24) Câu hỏi 24: khoản 4 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy hình phạt và các biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Tuy nhiên, trường hợp người chưa thành niên phạm tội chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 thì có bị áp dụng hình phạt và các biện pháp khác ngoài hình phạt tù hay không?

Trường hợp này, khi xem xét, quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án cần phải xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như khả năng giáo dục, phục hồi của người chưa thành niên để quyết định hình phạt bảo đảm phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên mà không nhất thiết phải căn cứ bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ.

Trên đây là nội dung "Hướng dẫn công tác xét xử vụ án Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?"

Hướng dẫn vướng mắc trong công tác xét xử lĩnh vực Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết?

Hướng dẫn vướng mắc trong công tác xét xử lĩnh vực Hình sự 2026 mới nhất theo Công văn 250/TANDTC-PC chi tiết? (Hình từ Internet)

Khi nào được coi là “phạm tội lần đầu”?

Rất nhiều người dân hiểu nhầm rằng “chưa từng đi tù” thì được coi là phạm tội lần đầu. Tuy nhiên, pháp luật quy định chặt chẽ hơn.

Theo hướng dẫn áp dụng tại khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025, phạm tội lần đầu được hiểu là thuộc một trong các trường:

+ Từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào;

+ Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

+ Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

+ Thuộc trường hợp được coi là không có án tích;

+ Trước đó đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích;

Ví dụ:

+ Một người chưa từng bị kết án, lần đầu thực hiện hành vi vi phạm hình sự thì có thể được coi là phạm tội lần đầu.

+ Một người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích thì không được coi là phạm tội lần đầu.

+ Người chưa thành niên bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp:

++ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;

++ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý.

Thế nào là “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”?

Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được hiểu:

+ Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; hoặc

+ Người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy, việc xác định “ít nghiêm trọng” không dựa vào cảm tính, mà căn cứ vào:

+ Mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với hành vi phạm tội;

+ Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi;

+ Hậu quả gây ra cho xã hội.

+ Vai trò của người phạm tội trong các vụ án.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Phú Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là cấm người chưa thành niên phạm tội tiếp xúc với những ai?

Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là một trong những biện pháp xử lý chuyển hướng tại công đồng được áp dụng với người chưa thành niên phạm tội. Sau đây là quy định chi tiết

Bài viết mới nhất