Căn cứ xác định biên chế công chức từ 01/7/2026 dự kiến theo dự thảo Nghị định quản lý và sử dụng biên chế công chức là gì?
Bộ Tư pháp đã công bố tài liệu thẩm định dự thảo Nghị định về quản lý sử dụng biên chế công chức dự kiến có hiệu lực từ 01/7/2026.Tải về
Tại Điều 6 dự thảo Nghị định dự kiến quy định về căn cứ xác định biên chế công chức từ 01/7/2026 từ 01/7/2026 gồm có như sau:
- Vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm công chức theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức hành chính.
- Việc cải tiến quy trình, thay đổi phương thức hoạt động, quy chế làm việc; mức độ hiện đại hóa về trang thiết bị, phương tiện làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển đồi số; phân cấp, phân quyền.
- Thực tế quản lý, sử dụng biên chế công chức được giao; việc ký hợp đồng một số nhiệm vụ của công chức theo quy định tại Điều 21 Luật Cán bộ, công chức 2025.
- Đối với tổ chức hành chính ở cấp tỉnh, cấp xã, ngoài các căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 6 dự thảo Nghị định còn phải căn cứ vào số lượng, phân loại đơn vị hành chính cấp xã, dân số, diện tích, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù.

Căn cứ xác định biên chế công chức từ 01/7/2026 dự kiến theo dự thảo Nghị định quản lý và sử dụng biên chế công chức là gì?
Điều chỉnh biên chế công chức từ 01/7/2026 dự kiến theo dự thảo Nghị định quản lý và sử dụng biên chế công chức ra sao?
Tại Điều 10 dự thảo Nghị định dự kiến quy định về điều chỉnh biên chế công chức từ 01/7/2026 như sau:
(1) Việc điều chỉnh biên chế công chức trong tổ chức hành chính thực hiện trong các trường hợp sau:
- Tổ chức hành chính có sự thay đổi một trong các căn cứ quy định tại Điều 6 dự thảo Nghị định;
- Tổ chức hành chính được thành lập, tổ chức lại, giải thể theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
(2) Hồ sơ điều chỉnh biên chế công chức gồm: Văn bản đề nghị điều chinh biên chế công chức (trong đó thể hiện rõ căn cứ, cơ sở đề xuất điều chỉnh biên chế công chức; thực trạng bố trí, sử dụng công chức; phương án điều chỉnh biên chế công chức gắn với việc bố trí, sử dụng công chức theo vị trí việc làm; dự kiến nguồn công chức bổ sung, thay thế; dự kiến thực hiện chính sách tinh giản biên chế và dự toán kinh phí để thực hiện...); các tài liệu liên quan đến điều chỉnh biên chế công chức kèm theo (quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ; văn bản phân cấp, ủy quyền; biên bản bàn giao nhân sự; ...).
(3) Thẩm quyền điều chỉnh biên chế công chức
- Tổ chức hành chính của bộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này xây dựng hồ sơ điều chỉnh biên chế công chức theo quy định tại khoản 2 Điều 10 dự thảo Nghị định, gửi cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 8 dự thảo Nghị định để thẩm định, trình người đứng đầu bộ để quyết định theo thẩm quyền hoặc gửi Bộ Nội vụ. Người đứng đầu bộ quyết định việc điều chỉnh biên chế công chức giữa các tổ chức hành chính thuộc phạm vi quản lý trong số biên chế công chức của bộ đã được cơ quan có thẩm quyền giao.
Cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế của bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định điều chỉnh biên chế công chức giữa các bộ trong tổng số biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao, quyết định điều chỉnh giảm biên chế công chức của bộ khi kết thúc hoạt động, giải thể tổ chức hành chính, điều chỉnh giảm chức năng, nhiệm vụ.
Bộ Nội vụ thẩm định hồ sơ điều chinh bổ sung biên chế công chức của bộ ngoài số biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao, trình Chính phủ để báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định. Căn cứ số biên chế công chức được cấp có thẩm quyền điều chỉnh bổ sung, Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định giao bổ sung biên chế công chức cho các bộ.
- Tổ chức hành chính ở cấp tỉnh, cấp xã thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 10 dự thảo Nghị định, xây dựng hồ sơ điều chỉnh biên chế công chức theo quy định tại khoản 2 Điều 10 dự thảo Nghị định, gửi cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 3 Điều 8 để thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền quản lý biên chế ở địa phương trình cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế của địa phương theo quy định của cấp có thẩm quyền.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh biên chế công chức giữa các tổ chức hành chính cấp tỉnh, từng cấp xã trong số biên chế công chức của địa phương đã được cơ quan có thẩm quyền giao. Căn cứ biên chế công chức được cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh bổ sung ngoài số biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh bổ sung biên chế đối với tổ chức hành chính cấp tỉnh và từng cấp xã. Căn cứ biên chế công chức được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định giao biên chế công chức đối từng tổ chức hành chính thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
- Đối với việc điều chỉnh biên chế công chức giữa bộ với địa phương hoặc giữa bộ với cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 16 dự thảo Nghị định trong số biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao, Bộ Nội vụ thẩm định và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định điều chỉnh giảm biên chế công chức của bộ; phối hợp với các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế công chức theo quy định của cấp có thẩm quyền điều chỉnh tăng biên chế công chức của địa phương và các cơ quan, tổ chức nêu trên.
Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế công chức theo quy định của cấp có thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định điều chỉnh tăng biên chế công chức của bộ. Bộ Nội vụ tổng hợp, báo cáo cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế của bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền về tình hình quản lý, sử dụng, điều chuyển biên chế công chức khi báo cáo tình hình quản lý biên chế hằng năm theo quy định tại khoản 2 Điều 14 dự thảo Nghị định.
- Điều chỉnh biên chế công chức tại các cơ quan đại diện Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quyết định điều chỉnh biên chế công chức của Bộ Ngoại giao tại các cơ quan đại diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tại từng thời điểm cụ thể trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở không vượt quá định mức do cấp có thẩm quyền quy định và chỉ tiêu biên chế của các cơ quan đại diện.
Người đứng đầu bộ quyết định việc điều chỉnh biên chế công chức của các bộ tại cơ quan đại diện khi có nhu cầu, bảo đảm không vượt quá định mức do cấp có thẩm quyền quy định, sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Đối với việc điều chỉnh bổ sung biên chế của các bộ tại cơ quan đại diện do yêu cầu của nhiệm vụ, người đứng đầu bộ xây dựng Đề án về việc bổ sung biên chế của bộ đó tại cơ quan đại diện, gửi Bộ Ngoại giao để thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
(4) Việc điều chỉnh biên chế công chức thực hiện theo nguyên tắc không làm tăng tổng biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao tại thời điểm điều chỉnh, bảo đảm phù hợp với thẩm quyền của cơ quan được giao thẩm quyền quản lý biên chế theo quy định của cấp có thẩm quyền.
(5) Các trường hợp điều chỉnh biên chế công chức tại các điểm a, b, c, d khoản 5 Điều 10 dự thảo Nghị định mà làm tăng tổng biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao thì thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9 dự thảo Nghị định.
Căn cứ tuyển dụng công chức năm 2026 là gì?
Căn cứ tuyển dụng công chức được quy định tại Điều 3 Nghị định 170/2025/NĐ-CP như sau:
- Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào tỷ lệ công chức cần bố trí theo vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển.
- Cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng xây dựng kế hoạch tuyển dụng, quyết định tuyển dụng theo thẩm quyền. Nội dung kế hoạch tuyển dụng bao gồm:
+ Số lượng biên chế được giao và số lượng biên chế chưa sử dụng của cơ quan sử dụng công chức; yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển;
+ Tỷ lệ công chức cần bố trí theo từng vị trí việc làm trong cơ quan sử dụng công chức và số lượng biên chế cần tuyển ở từng vị trí việc làm, trong đó xác định vị trí việc làm được tuyển dụng chung cho nhiều cơ quan sử dụng công chức khác nhau (nếu có);
+ Số lượng biên chế, vị trí việc làm tuyển dụng riêng đối với người dân tộc thiểu số (nếu có), trong đó xác định cụ thể chỉ tiêu, cơ cấu dân tộc cần tuyển;
+ Số lượng biên chế, vị trí việc làm thực hiện xét tuyển (nếu có) đối với từng nhóm đối tượng;
+ Tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự tuyển ở từng vị trí việc làm.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định tổ chức thi ngoại ngữ thì xác định rõ ngoại ngữ thi, nội dung, hình thức, thời gian thi, xác định điểm số đạt kết quả;
+ Phương thức tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển); trường hợp tổ chức thi tuyển thì xác định cụ thể hình thức tổ chức thi môn nghiệp vụ chuyên ngành;
+ Các nội dung khác (nếu có).
Căn cứ tuyển dụng công chức năm 2026 áp dụng theo quy định mới nhất tại Nghị định 170/2025/NĐ-CP (trước khi có quy định mới thay thế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];