Đánh bài 3 cây là gì? Bài 3 cây là gì?
Bài 3 cây hay bài cào là một kiểu chơi bài bằng một bộ bài tây.
Đánh bài 3 cây là một trò chơi bài dân gian rất phổ biến ở Việt Nam, nhất là dịp lễ Tết. Mỗi người chơi được chia 3 lá bài, so điểm để thắng thua, không xét chất, chỉ xét giá trị lá bài.
Cách tính điểm như sau:
Các lá: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 mỗi lá có số điểm tương ứng con số đó.
Các lá: J, Q, K mỗi lá tính mười điểm.
Điểm của người chơi trong mỗi ván là số lẻ của tổng điểm ba lá bài. Người chơi sở hữu được cả ba lá bài J, Q, K bất kỳ thì thắng ngay ván đó không cần tính điểm gọi là ba cào hoặc ba tiên.
*Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo

Đánh bài 3 cây là gì? Bài 3 cây là gì? Đánh bài 3 cây 1 nghìn 2 nghìn ngày Tết có bị xử phạt hay không? (Hình từ Internet)
Đánh bài 3 cây 1 nghìn 2 nghìn ngày Tết có bị xử phạt hay không?
Theo Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP có quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc trái phép như sau:
Hành vi đánh bạc trái phép
1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
...
Theo đó, mọi hình thức đánh bạc ăn tiền trái phép đều bị cấm, không phân biệt số tiền lớn hay nhỏ, ngày thường hay ngày Tết. Đánh bài 3 cây 1 nghìn 2 nghìn ngày Tết cũng được xem là hành vi đánh bài ăn tiền.
Người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng hoặc nặng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật về tội đánh bạc tùy theo tính chất và mức độ vi phạm của người phạm tội.
Lưu ý: Mức phạt tiền nêu trên là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. (Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 282/2025/NĐ-CP)
Và căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 120 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 về tội đánh bạc như sau:
Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Theo đó, đánh bài 3 cây 1 nghìn 2 nghìn ngày Tết mà ăn thua tiền từ 5 triệu đồng trở lên hoặc người nào đánh bài 1 nghìn 2 nghìn ngày Tết nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tái phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc với hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiện nay được quy định ra sao?
Căn cứ theo Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiện nay được quy định như sau:
(1) Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.
(2) Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
(3) Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];