- Các hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự là gì? Có bao nhiêu hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự?
- Cơ quan thi hành án dân sự có phải cung cấp hồ sơ để đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản thi hành án không?
- Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản để thi hành án dân sự thì xử lý thế nào?
Các hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự là gì? Có bao nhiêu hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự?
Theo quy định hiện nay thì có 05 hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 40 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định 05 hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự, bao gồm:
(1) Trường hợp tài sản đang do người phải thi hành án hoặc người khác quản lý, sử dụng, bảo quản thì giao cho người đó bảo quản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
(2) Tài sản là vàng, bạc, đồ cổ, kim khí quý, đá quý, tiền mặt, ngoại tệ tiền mặt hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước;
(3) Giao cho cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;
(4) Do cơ quan thi hành án dân sự bảo quản;
(5) Trường hợp không thực hiện được việc giao bảo quản theo quy định tại các mục (1), (3) và (4) thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo quản trong thời gian chưa xử lý được tài sản.
>>XEM THÊM: Căn cứ ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án dân sự là gì?
>>XEM THÊM: Tài sản không được kê biên của doanh nghiệp khi thi hành án dân sự bao gồm những loại nào?

Các hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự là gì? Có bao nhiêu hình thức giao bảo quản tài sản thi hành án dân sự? (Hình từ Internet)
Cơ quan thi hành án dân sự có phải cung cấp hồ sơ để đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản thi hành án không?
Căn cứ Điều 87 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định như sau:
Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản
1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.
Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp hồ sơ để đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của Chính phủ cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.
2. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất mà đủ điều kiện nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận mà không thu hồi được giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận đã cấp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật.
3. Đối với tài sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
4. Giấy tờ được cấp mới thay thế cho giấy tờ không thu hồi được. Giấy tờ không thu hồi được không còn giá trị.
Như vậy, việc cung cấp hồ sơ để đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản thi hành án cho người mua tài sản là trách nhiệm của Cơ quan thi hành án dân sự.
Ngoài ra, đối với tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất mà đủ điều kiện nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho người mua.
Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản để thi hành án dân sự thì xử lý thế nào?
Tại khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025 có quy định về cách xử lý của Chấp hành viên trong trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản để thi hành án dân sự như sau:
- Thông báo cho người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án. Việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định của Tòa án;
- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];