- Công văn ngày 17/7/2026: Hướng dẫn chế độ chính sách cho cán bộ công chức theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP?
- Những vùng nào được xem là vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn?
- Quy định về thời gian không được tính hưởng các chế độ trợ cấp đối với CBCCVC công tác ở vùng đặc biệt khó khăn như thế nào?
Công văn ngày 17/7/2026: Hướng dẫn chế độ chính sách cho cán bộ công chức theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP?
Ngày 17/7/2026, Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng ban hành Công văn 4248/SNV-CCVC chế độ chính sách đối với cán bộ công chức theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ.
Tải về => Công văn 4248/SNV-CCVC.
Theo đó, Sở Nội vụ nhận được Công văn số 4440/UBND-VP ngày 08/7/2026 của Ủy ban nhân dân xã Lạc Dương về việc hướng dẫn chế độ chính sách đối với cán bộ công chức theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP và Công văn số 7392/STC-NS ngày 15/7/2026 của Sở Tài chính về việc chuyển nội dung đề nghị của Ủy ban nhân dân xã Lạc Dương để Sở Nội vụ hướng dẫn theo thẩm quyền. Sau khi xem xét nội dung văn bản, đối chiếu các quy định liên quan và văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ có ý kiến như sau:
- Về đối tượng tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 76/2019/NĐ-CP
Tại điểm b khoản 1 Công văn số 4884/BNV-VP ngày 21/5/2026 của Bộ Nội vụ phúc đáp Công văn số 2223/SNV-CCVC ngày 28/4/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng thì đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 76/2019/NĐCP là người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ, Nghị định 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
- Về thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ tính hưởng chế độ trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 76/2019/NĐ-CP quy định: “Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này đang công tác và có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm trở lên, khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) thì được hưởng trợ cấp một lần tính theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trả lương trước khi chuyển công tác hoặc khi nghi hưu (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) chỉ trả”.
Đồng thời, tại Điều 13 Nghị định 76/2019/NĐ-CP quy định thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng mà chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì được cộng dồn).
Từ những cơ sở nêu trên, Sở Nội vụ đề nghị Ủy ban nhân dân xã Lạc Dương tiến hành rà soát hồ sơ cá nhân, đối chiếu với các văn bản hướng dẫn liên quan, thực hiện giải quyết theo quy định.
* Xem thêm thông tin mới nhất 2026::
>> Chính thức cho thôi làm Trưởng khu phố, Trưởng thôn từ ngày 1/8/2026
>> Công văn 4249: Đề xuất CBCCVC làm việc ngày thứ 7 hằng tuần
>> Chính thức HKD, CNKD không phải thông báo doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống từ 01/7/2026
>> Thống nhất chi cho mỗi trẻ em dưới 16 tuổi 750.000 đồng/người/tháng tiền

Công văn ngày 17/7/2026: Hướng dẫn chế độ chính sách cho cán bộ công chức theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP? (Hình từ Internet)
Những vùng nào được xem là vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn?
Căn cứ theo Điều 1 Nghị định 76/2019/NĐ-CP quy định vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định bao gồm:
- Huyện đảo Trường Sa, Hoàng Sa, DK1 (nay là đặc khu Trường Sa Nghị quyết 1667/NQ-UBTVQH15 năm 2025, Hoàng Sa Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 năm 2025 và DK1)
- Các xã khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã đảo đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Các thôn, buôn, xóm, bản, làng, phum, sóc, ấp,... (gọi chung là thôn) đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Quy định về thời gian không được tính hưởng các chế độ trợ cấp đối với CBCCVC công tác ở vùng đặc biệt khó khăn như thế nào?
Căn cứ tại Điều 13 Nghị định 76/2019/NĐ-CP quy định thời gian không được tính hưởng các chế độ trợ cấp của cán bộ công chức viên chức làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định như sau:
- Thời gian đi công tác, làm việc, học tập không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 01 tháng trở lên;
- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên;
- Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
- Thời gian bị tạm đình chỉ công tác, thời gian bị tạm giữ, tạm giam.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];