Có được tăng thêm số lượng ủy viên ban chấp hành so với số lượng đã được đại hội biểu quyết thông qua hoặc vượt quá số lượng không?
Căn cứ Điều 13 Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XIII ban hành kèm theo Quyết định 2399/QÐ-TLĐ năm 2024 quy định:
Ban chấp hành công đoàn các cấp
...
4. Số lượng uỷ viên ban chấp hành công đoàn cấp nào do đại hội công đoàn cấp đó quyết định và không vượt số lượng theo quy định của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Trường hợp cần tăng thêm số lượng ủy viên ban chấp hành so với số lượng đã được đại hội biểu quyết thông qua hoặc vượt quá số lượng theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, phải xin ý kiến bằng văn bản và phải được sự đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp trước khi tiến hành quy trình, thủ tục bầu bổ sung theo quy định, nhưng không vượt quá mười phần trăm (10%). Trường hợp tăng số lượng ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, do Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyết định, nhưng không vượt quá năm phần trăm (5%) so với số lượng uỷ viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã được Đại hội Công đoàn Việt Nam quyết định.
...
Theo đó, vẫn có thể tăng thêm số lượng ủy viên ban chấp hành so với số lượng đã được đại hội biểu quyết thông qua hoặc vượt quá số lượng và phải xin ý kiến bằng văn bản và phải được sự đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp trước khi tiến hành quy trình, thủ tục bầu bổ sung theo quy định, nhưng không vượt quá mười phần trăm (10%).
Trường hợp tăng số lượng ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, do Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyết định, nhưng không vượt quá năm phần trăm (5%) so với số lượng uỷ viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã được Đại hội Công đoàn Việt Nam quyết định.

Có được tăng thêm số lượng ủy viên ban chấp hành so với số lượng đã được đại hội biểu quyết thông qua hoặc vượt quá số lượng? (Hình từ Internet)
Đối tượng và điều kiện gia nhập Công đoàn Việt Nam theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa 13 là gì?
Căn cứ Điều 1 Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XIII ban hành kèm theo Quyết định 2399/QÐ-TLĐ năm 2024 quy định đối tượng và điều kiện gia nhập Công đoàn Việt Nam như sau:
(1) Đối tượng kết nạp
- Người lao động là công dân Việt Nam làm công hưởng lương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, tuyển dụng, sử dụng người lao động và trả lương, tiền công theo quy định; người làm việc không có quan hệ lao động trên lãnh thổ Việt Nam.
- Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên.
(2) Điều kiện gia nhập
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam;
- Tán thành Điều lệ Công đoàn Việt Nam;
- Tự nguyện gia nhập Công đoàn Việt Nam;
- Không là thành viên tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
(3) Khuyến khích người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tham gia các hình thức tập hợp do Công đoàn Việt Nam tổ chức.
Nếu khuyết uỷ viên Ban chấp hành công đoàn thì giải quyết thế nào?
Căn cứ Điều 13 Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XIII ban hành kèm theo Quyết định 2399/QÐ-TLĐ năm 2024 quy định:
Ban chấp hành công đoàn các cấp
...
5. Khi khuyết uỷ viên Ban chấp hành công đoàn cấp nào thì ban chấp hành công đoàn cấp đó tiến hành quy trình, thủ tục bầu bổ sung theo quy định nhưng phải đúng cơ cấu do đại hội công đoàn cấp đó quyết định. Số lượng bổ sung trong nhiệm kỳ đối với công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên không vượt quá năm mươi phần trăm (50%) số lượng uỷ viên ban chấp hành đã được đại hội quyết định. Trường hợp cần bổ sung vượt quá quy định trên thì phải được sự đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp.
6. Việc thôi tham gia ban chấp hành công đoàn các cấp
a) Ủy viên ban chấp hành công đoàn các cấp khi nghỉ hưu, nghỉ việc chờ nghỉ hưu, thôi việc; thôi giữ chức danh, chức vụ hoặc chuyển công tác đến nơi khác không thuộc cơ cấu ban chấp hành; ủy viên ban chấp hành là cán bộ công đoàn chuyên trách khi không còn là chuyên trách công đoàn thì đương nhiên thôi ban chấp hành công đoàn cấp đó và cấp trên (nếu có), kể từ thời điểm ghi trong quyết định nghỉ hưu, nghỉ việc chờ nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác hoặc thông báo của cơ quan có thẩm quyền.
b) Ủy viên ban chấp hành công đoàn xin thôi tham gia ban chấp hành hoặc các chức danh trong ban chấp hành không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 6 Điều này phải làm đơn và gửi ban chấp hành công đoàn cùng cấp xem xét, thống nhất và đề nghị công đoàn cấp trên xem xét, quyết định.
...
Theo đó, khi khuyết uỷ viên Ban chấp hành công đoàn cấp nào thì ban chấp hành công đoàn cấp đó tiến hành quy trình, thủ tục bầu bổ sung theo quy định nhưng phải đúng cơ cấu do đại hội công đoàn cấp đó quyết định. Số lượng bổ sung trong nhiệm kỳ đối với công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên không vượt quá năm mươi phần trăm (50%) số lượng uỷ viên ban chấp hành đã được đại hội quyết định. Trường hợp cần bổ sung vượt quá quy định trên thì phải được sự đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];