Quyết định giám đốc thẩm 43/2014/DS-GĐT ngày 19/02/2014 về vụ án tranh chấp sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 43/2014/DS-GĐT NGÀY 19/02/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 19/02/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hoàng Xuân Lũy (Láy), sinh năm 1942; trú tại thôn Pò Khiển, xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

Bị đơn: Anh Hoàng Minh Giáp, sinh năm 1964; trú tại thôn Pò Khiển, xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

Theo Quyết định kháng nghị số 564/2013 KN-DS ngày 20/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2012/DS-PT 16/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2012 và trong quá trình giải quyết vụ án, đơn- ông Hoàng Xuân Lũy (tức Láy) trình bày:

Bố của ông là cụ Hoàng Văn Sông (tử sỹ năm 1946). Sau khi bố ông mất, gia đình ông có hai nhân khẩu là ông và mẹ ông- cụ Hoàng Thị San. Năm 1959, mẹ ông đưa khoảng 20.000m2 đất vào Hợp tác xã Đồng Tiến, xã Thanh Bình, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (nay là xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn). Năm 1960, cụ San chết, năm 1961 ông đi học xa nhà nên toàn bộ đất đai do Hợp tác xã quản lý. Năm 1993, Hợp tác xã nêu trên tự giải thể, ông về nhận lại đất của cụ San, khi đi nhận đất có ông Hoàng Văn Cai là người cùng mẹ khác cha với ông đi cùng, sau đó ông cho ông Cai mượn toàn bộ đất của cụ sằn nhưng giữa hai người không làm thủ tục, giấy tờ gì.

Ngày 20/9/1995, ông bị bắt do phạm tội hình sự và bị xử phạt 20 năm tù giam. Ngày 20/12/2011, ông chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương là xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, thì ông thấy số diện tích đất đai của gia đình ông hiện do anh Hoàng Minh Giáp (con ông Cai) đang sử dụng và một số diện tích đất bị Nhà nước thu hồi và anh Giáp đã nhận tiền đền bù gần một tỷ đồng. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được quyền sử dụng diện tích 293m2 đất nông nghiệp (đã trừ phần Nhà nước thu hồi) thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 38 và 1.784,4m2 đất ao (đã trừ phần Nhà nước thu hồi) thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 38.

Bị đơn- Anh Hoàng Minh Giáp trình bày: Anh khẳng định nguồn gốc đất là của cụ Hoàng Thị sằn đã góp vào Hợp tác xã Đồng Tiến năm 1959, năm 1993 Hợp tác xã này giải thể thì ông Lũy có về nhưng không nhận đất nên toàn bộ đất đai do bố anh là ông Hoàng Văn Cai (mất năm 1999) sử dụng, sau đó chia cho các con sử dụng. Ngày 10/6/1994, anh làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, ngày 12/5/1995 anh được ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2671/QSDĐ mang tên Hoàng Minh Giáp với tổng diện tích đất được cấp là 1.343m2, năm 2000 thực hiện việc đôi giây chứng nhận quyền sử dụng đất, anh đã xin cấp đối. Ngày 21/4/2000, ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00730/QSDĐ mang tên Hoàng Minh Giáp với tổng diện tích đất được cấp là 1.778m2, trong đó có thửa số 10, tờ bản đồ số 38 diện tích là 385m2 đất nông nghiệp, Nhà nước đã thu hồi 92m2, hiện nay diện tích thực tế còn lại là 293m2 đất.

Đối với đất ao thủy sản, ngày 20/7/2004, anh làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 04/7/2006, anh được ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 819409 mang tên hộ Hoàng Minh Giáp có tổng diện tích đất ao là 2.022m2 thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 38, Nhà nước đã thu hồi 237,6m2, diện tích còn lại là 1.784,4m2. Nay ông Lũy kiện yêu cầu được quyền sử dụng đối với diện tích 293m2 đất nông nghiệp và 1.784,4m2 đất ao, anh không đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm sổ 07/2012/DS-ST ngày 05/9/2012, Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hoàng Xuân Lũy (tức Hoàng Xuân Láy) về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với anh Hoàng Minh Giáp.

Kiến nghị ủy ban nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn thu hồi lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Hoàng Minh Giáp gồm:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00730/QSDĐ của ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp ngày 21/4/2000 có tổng diện tích là 1.778,4m2 cho hộ anh Hoàng Minh Giáp.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06580/QSDĐ của ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp ngày 04/7/2006, có tổng diện tích là 2.022m2 cho hộ anh Hoàng Minh Giáp.

Tạm giao cho ông Hoàng Xuân Lũy (tức Hoàng Xuân Láy) quyền sử dụng đất đối với diện tích 293m2 đất nông nghiệp thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 38 nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00730/QSDĐ của ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp ngày 21/4/2000 cho hộ anh Hoàng Minh Giáp.

Tạm giao cho ông Hoàng Xuân Lũy (tức Hoàng Xuân Láy) quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.784,4m2 đất ao thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 38 nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06580/QSDĐ của úy ban nhân dân huyện Na Rì cấp ngày 04/7/2006 cho hộ anh Hoàng Minh Giáp. Anh Giáp có nghĩa vụ thu hoạch toàn bộ tài sản trên đất.

Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 38 có vị trí tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp đất hộ ông Triệu Văn Nhu, phía Tây giáp thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38 của anh Hoàng Minh Giáp, phía Nam giáp đường quốc lộ 3B, phía Bắc giáp thửa đất số 107, tờ bản đồ số 32 của anh Hoàng Minh Giáp.

Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 38 có vị trí tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38 của anh Hoàng Minh Giáp, phía Tây giáp đường đi ra thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, phía Bắc giáp đất đồi của anh Hoàng Minh Giáp. Hai thửa đất nêu trên có kèm theo sơ đồ.

Địa chỉ hai thửa đất ở thôn Pò Khiển, xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

Ông Hoàng Xuân Lũy và anh Hoàng Minh Giáp có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/9/2012, anh Giáp có đơn kháng cáo Bản án sơ thấm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2012/DS-PT ngày 16/11/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn quyết định: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hoàng Xuân Lũy (Láy), bác đơn kháng cáo của anh Hoàng Minh Giáp. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2012/DS-ST ngày 05/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Hoàng Minh Giáp có đơn khiếu nại giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 564/2013/KN-DS ngày 20/12/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2012/DS- PT ngày 16/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2012/DSST ngày 05/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 19/02/2014, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với những nội dung nêu trong kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời cho rằng phần diện tích đất nông nghiệp và đất ao các đương sự đang tranh chấp được ủy ban nhân dân có thẩm quyền cấp cho hộ anh Hoàng Minh Giáp, cho nên về tố tụng phải đưa vợ, con anh Giáp vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ngoài ra, cũng cần xác minh làm rõ chủ trương của địa phương khi Hợp tác xã giải thể thì đất được giao cho ai? Cho chủ cũ hay cho những người đang sinh sống tại địa phương? Trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định tại thời điểm trả đất, chính quyền trả đất cho ông Lũy, ông Cai hay trả đất lại cho gia đình cụ sằn trong đó ông Lũy, ông Cai cũng được hưởng. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiếm sát viên và sau khi thảo luận.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là ông Hoàng Xuân Lũy trình bày, cha mẹ ông là cụ Hoàng Văn Sông (chết năm 1946) và cụ Hoàng Thị sằn (chết năm 1960). Tháng 02/1961 ông đi học tại trường Thiếu nhi Việt Bắc, khi đó gia đình ông không còn ai, nên cụ San giao toàn bộ ruộng vườn, đất canh tác khoảng 20.500m2 cho Hợp tác xã Đồng Tiến, xã Thanh Bình, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Thái, (nay là xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn). Sau khi học xong, ông về làm cán bộ tại Phòng Ngoại thương huyện Na Rì, năm 1966 ông đi bộ đội, năm 1986, ông được nghỉ hưu và về sống với vợ, con tại thành phố Nam Định.

Năm 1993, khi Hợp tác xã giải thể, ông có về nhận lại toàn bộ diện tích đất mà gia đình ông đã đưa vào Hợp tác xã, khi đi nhận đất có ông Hoàng Văn Cai (là anh cùng mẹ khác cha với ông) đi nhận cùng. Do chưa có nhu cầu sử dụng đất, nên ông đã thỏa thuận cho ông Cai mượn lại toàn bộ diện tích đất nói trên để canh tác, việc nhận lại đất và thỏa thuận cho ông Cai mượn đất, các bên chỉ nói miệng, không lập thành văn bản.

Ngày 20/9/1995, ông bị bắt do phạm tội hình sự và bị xử phạt 20 năm tù giam. Ngày 20/12/2011, ông chấp hành xong hình phạt tù. Hiện nay, một phần diện tích đất của gia đình ông do anh Hoàng Minh Giáp (là con của ông Cai) quản lý, sử dụng và một số diện tích đất bị Nhà nước thu hồi đế mở rộng đường Quốc lộ 3. Do vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc anh Giáp phải trả lại cho ông diện tích đất nông nghiệp còn lại của thửa số 10, diện tích 293m2, và diện tích đất ao tại thửa 14, diện tích 1.784,4m2.

Bị đơn là anh Hoàng Minh Giáp thừa nhận nguồn gốc diện tích tại các thửa 10, 14 mà anh đang quản lý sử dụng là của cụ San (là bà nội của anh) đã đưa vào Hợp tác xã. Năm 1993 Hợp tác xã giải thế, do ông Lũy đi thoát ly và sinh song on định tại thành phổ Nam Định, nên cha của anh là ông Hoàng Văn Cai đã nhận lại toàn bộ diện tích đất có nguồn gốc của cụ San, cùng năm đó, ông Cai đã chia đất cho các con và anh được chia 02 thửa ruộng (thửa 10,15) và 01 thửa ao (thửa 14). Anh đã trực tiếp quản lý sử dụng và đăng ký, kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất này. Do vậy, anh không đông ý với yêu câu khởi kiện của ông Lũy.

Như vậy, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất tại thửa số 10 và 14 là của cụ Săn (là mẹ của ông Lũy và là bà Nội của anh Giáp) đã đưa vào hợp tác xã, đên năm 1993 Hợp tác xã giải thê thì giao lại đât trên cho chủ cũ. Ong Lũy cho răng, ông nhận lại đất và thỏa thuận cho ông Cai mượn để sử dụng, còn anh Giáp lại cho rằng, ông Lũy không nhận đất mà ông Cai mới là người nhận đất từ Hợp tác xã. Tuy nhiên, cả hai bên đều không có tài liệu chứng minh cho lời khai của mình.

Tại các “Giấy công nhận” ngày 25/02/2012 (BL44, 46) ông Hoàng Văn Nhâm và ông Hoàng Văn Thẩm (là người làm chứng) đều xác nhận: nguồn gốc 20.500m2 đất của tô tiên ông Lũy đê lại , năm 1995 ông Lũy cho ông Cai mượn diện tích đât này. Tuy nhiên tại các Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2012 (BL67,68) thì ông Nhâm và ông Thẩm lại trình bày: nguồn gốc đất là của cụ sằn đã đưa vào Hợp tác xã, còn việc ai là người nhận lại đất khi Hợp tác xã tan rã và có hay không việc ông Lũy cho ông Cai mượn đất, thì các ông không biết. Như vậy, lời khai của hai người làm chứng là ông Nhâm và ông Thâm đã không thống nhất với nhau nên không thê là chứng cứ.

Ngoài hai người làm chứng nói trên, còn có một số người có “Giấy công nhận” xác nhận nguồn gốc đất là của cụ San và ông Lũy cho ông Cai mượn đât. Đó là các ông: Hoàng Văn sằn (BL45); Hoàng Văn Và (BL47); Hoàng Văn Nó (BL48). Tuy nhiên, Tòa án chưa tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng này đê làm rõ, họ có chứng kiến việc ông Lũy nhận lại đất từ Hợp tác xã và chứng kiến việc ông Lũy thỏa thuận cho ông Cai mượn đất hay không và vì sao họ biết ông Lũy cho ông Cai mượn đất? Do đó chưa đủ cơ sở để đánh giá các nội dung mà những người làm chứng đã trình bày.

Lẽ ra trong trường hợp này phải thu thập chứng cứ (từ những người là cán bộ của Hợp tác xã thời kỳ năm 1992-1993) để làm rõ: năm 1993 khi Hợp tác xã giải thê thì ông Lũy hay ông Cai là người nhận lại đất của cụ San đã đưa vào Hợp tác xã? Có hay không việc ông Lũy là người nhận lại đất và thỏa thuận cho ông Cai mượn đất như trình bày của ông Lũy?

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ các vấn đề nêu trên, nhưng lại căn cứ vào lời khai của ông Lũy và lời khai của một số người làm chứng để cho rằng, khi hợp tác xã tan rã, ông Lũy là người nhận lại diện tích đất có nguồn gốc của cụ sằn và sau đó thỏa thuận cho ông Cai mượn đât, từ đó chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của ông Lũy là chưa đủ cơ sở.

Ngoài ra, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00730 QSDĐ do ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp ngày 21/4/2000 (BL12) cho hộ anh Giáp là 1.778m2, trong đó có 385m2 đất một lúa tại thửa sổ 10, tờ bản đồ số 38 và tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06580/QSD đất do ủy ban nhân dân huyện Na Rì cấp ngày 04/7/2006 (BL13) cho hộ gia đình anh Giáp là 2.022m2 đất ao thủy sản tại thửa sô 14, tờ bản đô số 38. Đây chính là diện tích đất mà ông Lũy yêu câu được sử dụng và các bên đang có tranh chấp. Tuy nhiên khi thụ lý giải quyêt vụ án, Tòa án câp sơ thâm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ anh Giáp có bao nhiêu nhân khẩu hiện cùng sửdụng diện tích đất nêu trên để đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án này và theo hướng dẫn tại điểm a tiều mục 2.4 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì ông Lũy (người thừa kế của chủ cũ là cụ Hoàng Thị sằn) không có quyền đòi lại Quyền sử dụng đất khi đất đó đã được giao cho ngưòi khác sử dụng (hộ anh Giáp) theo các Giây chứng nhận quyền sử dụng đất đã nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2012/DS-PT ngày 16/11/2012, Tòa án cấp phúc thẩm có nhận định về đặc thù vùng núi và thực tế để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lũy, tuy nhiên không dẫn ra được các tài liệu đế chứng minh cho nhận định này. Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ chủ trương của địa phương ở thời điểm năm 1993, khi các Hợp tác xã giải thế thì đất đó giao cho ai quản lý, sủ dụng.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 564/2013/KN-DS ngày 20/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2012/DS-PT ngày 16/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2012/DSST ngày 05/09/2012 của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Hoàng Văn Lũy (Láy) với bị đơn là anh Hoàng Minh Giáp.


81
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về