Quyết định giám đốc thẩm 06/2008/DS-GĐT ngày 12/05/2008 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 06/2008/DS-GĐT NGÀY 12/05/2008 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 5 năm 2008, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa:    

Nguyên đơn:

1. Ông Huỳnh Hiếu Thảo, sinh năm 1950;

2. Bà Huỳnh Thị Chiền, sinh năm 1918;

3. Ông Huỳnh Văn Dã, sinh năm 1934;

4. Ông Huỳnh Văn Hóa (tức Nhiên), sinh năm 1953; uỷ quyền cho ông Trần Hữu Hạnh đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 19-11-2003);

5. Chị Đàm Thị Tuyết, sinh năm 1971; uỷ quyền cho ông Trần Hữu Hạnh đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 19-11-2003);

6. Chị Phan Thị Lành, sinh năm 1961; uỷ quyền cho ông Trần Hữu Hạnh đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 19-11-2003);

Các nguyên đơn đều trú tại: ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Nghiệp, sinh năm 1925; trú tại: ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; uỷ quyền cho ông Huỳnh Hữu Duyên đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 27-9-2004).

Ng­ười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Hữu Duyên;

2. Chị Huỳnh Thị Hằng;                      

3. Anh Huỳnh Văn Khoa;   

4. Anh Nguyễn Văn Bé;

5. Anh Huỳnh Văn Thu;                  

6. Chị Phan Thị Tính;                             

7. Anh Trần Thanh Nhàn;

8. Chị Huỳnh Thị Suông;

9. Anh Huỳnh Thành Lộc;

10. Anh Huỳnh Văn Mỹ;                          

11. Anh Huỳnh Văn Lặc;    

Đều trú tại: ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14-6-1996 và lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn trình bày rằng cụ Huỳnh Văn Điển (chết năm 1967) và cụ Phạm Thị Gư­ơng (chết năm 1981) có 07 người con là:

1. Ông Huỳnh Văn Bảo (đã chết), có 3 người con là các ông, bà Hà Thị Kiết, Huỳnh Văn Dã và Huỳnh Thị Suông.

2. Bà Huỳnh Thị Đạm (đã chết), có 3 người con là các ông, bà Võ Văn Hiệp, Võ Thị Lợi và Võ Thị Chơn.

3. Ông Huỳnh Văn Châu (chết năm 2002), có 4 người con là các ông, bà Huỳnh Hiếu Thảo, Huỳnh Thành Lộc, Huỳnh Sĩ Hiền và Huỳnh Diệu Nhiên. 

4. Bà Huỳnh Thị Chiền.

5. Bà Huỳnh Thị Lệnh (đã chết), có 5 người con là các ông, bà Nguyễn Thị Xuân, Phan Văn Tỏ, Phan Thị Lành, Phan Văn Nô và Phan Thị Hằng.

6. Ông Huỳnh Văn Đô (đã chết), có 7 người con là các ông, bà Huỳnh Thị Đẹp, Huỳnh Văn Nhiên, Huỳnh Văn Tâng, Huỳnh Văn Phú, Huỳnh Văn Giầu, Huỳnh Văn Hướng và Huỳnh Văn Tiền. 

7. Ông Huỳnh Văn Nghiệp.

Cụ Điển, cụ Gương chết, không để lại di chúc; di sản của hai cụ để lại bao gồm: một căn nhà sàn lợp lá diện tích 70m2 trên phần đất thổ cư­, v­ườn tạp có chiều ngang 24m, dài 200m và 9,5 công đất nông nghiệp tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Sau khi hai cụ chết, ông Nghiệp quản lý, sử dụng căn nhà, một phần đất thổ cư­, v­ườn tạp và 9,5 công đất nông nghiệp; 16 hộ gia đình là con, cháu trong họ tộc của cụ Điển, cụ Gương đã xây dựng nhà ở ổn định trên phần đất thổ cư­ và v­ườn tạp còn lại.

Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế căn nhà, phần đất thổ cư­, v­ườn tạp và 9,5 công đất nông nghiệp, trong đó cho ông Nghiệp một phần, 6 phần còn lại chia chung bằng hiện vật cho các nguyên đơn.

Bị đơn là ông Huỳnh Văn Nghiệp trình bày cụ Điển chết, không để lại di chúc, nh­ưng ngày 27-9-1968 mẹ ông là cụ G­ương đã lập “Tờ cho đứt cho nhà” với nội dung cho ông căn nhà cùng phần đất thổ cư­ và v­ườn tạp do ông đang quản lý, sử dụng, còn 9,5 công đất nông nghiệp thì cha mẹ đã phân chia cho ông khi hai cụ còn sống. Do căn nhà này bị hư, ông đã dỡ ra và cất lại nhà; khi cất lại nhà, ông sử dụng một số cây của nhà cũ. Trước đây, ông và các ông, bà Huỳnh Văn Châu, Huỳnh Thị Chiền, Huỳnh Văn Dã (con ông Huỳnh Văn Bảo), Huỳnh Văn Hóa (con ông Huỳnh Văn Đô), Phan Văn Tỏ (con bà Huỳnh Thị Lệnh), Võ Thị Chơn (con bà Huỳnh Thị Đạm), có tranh chấp về đất đai và Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân đã giải quyết tại Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996 với nội dung là giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho ông; do đó, ông không đồng ý phân chia thừa kế.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu là xin tiếp tục ở trên phần đất mà họ đã xây nhà ở và đang sử dụng ổn định.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 130/DSST ngày 08-5-1997, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân quyết định:

“1. Bác yêu cầu của ông Châu, bà Truyền, anh Dã, anh Nhiên, chị Xuân, chị Chơn đòi chia DT đất SXNN 9,5 công tầm cắt do ông Nghiệp đứng tên quyền sử dụng.

2. Xử chia di sản của ông Huỳnh Văn Điển, bà Phạm Thị Gương gồm nhà có 18 cây cột căm xe, thao lao, 8 cây kèo, 18 cây đòn tay, 2 dây xiêng, 20 cây nóng đá núi sam trị giá 4.112.000đ, gắn liền trên phần đất 3.980,85m2 trị giá 23.885.100đ (đã trừ diện quy hoạch lộ giới tọa lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm) cho các thừa kế là ông Bảo, bà Đạm, ông Châu, bà Truyền, bà Lịnh, ông Đô, ông Nghiệp như sau:

- Ông Huỳnh Văn Nghiệp được sử dụng phần đất thổ cư DT 586,66m2 trị giá 3.411.960đ được khấu trừ các phần đất của con ông đã xây cất nhà ổn định trên phần đất di sản như: Anh Khoa 2 nền nhà (4m x 6m) + (4,8 x 6,1) diện tích 53,28m2, anh Duyên 1 nền nhà (5,5 x 9,2) diện tích 50,60m2, chị Tuyết 1 nền nhà (4,8 x 6,1) diện tích 29,28m2, chị Hằng 1 nền nhà (3,7 x 8) diện tích 29,60m2. Còn lại của ông Nghiệp diện tích 405,90m2 gồm chiều ngang 9m giáp phía đông là nhà ông Đô, phía tây nhà ông Dã chiều dài là 45,10m, giáp phía bắc là nhà anh Duyên chạy thẳng phía sau hậu và được quyền sở hữu căn nhà nền đất ngang 8,3m dài 14,2m gắn liền trên phần đất này. Trong đó có 18 cây cột căm xe, thao lao, 8 cây kèo, 18 cây đòn tay, 2 dây xiêng đều là thao lao, 20 cây nóng đá núi sam trị giá 4.112.000 đ.

- Công nhận việc thỏa thuận của anh Huỳnh Văn Thảo (đại diện ông Châu), Huỳnh Văn Dã (đại diện ông Bảo), Võ Thị Chơn (đại diện bà Đạm), Nguyễn Thị Xuân (đại diện bà Lịnh), Huỳnh Văn Nhiên (đại diện ông Đô), Trần Hữu Hạnh (đại diện bà Truyền) về việc tự phân chia diện tích đất thổ cư là 3.412,19m2 nằm giữa giáp phía đông là đất của ông Lâm Văn Minh, phía tây là đất của ông Lê Văn Sua nhưng có khấu trừ diện tích các căn nhà đã cư trú ổn định như: Anh Quý 47,16m2, ông Đô 121,5m2, anh Dã 93m2, anh Thu 54,59m2, anh Nhàn 31,50m2 và phải tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ đã có nhà trong diện quy hoạch lộ giới khi nhà nước giải tỏa như bà Suông, anh Lộc, bà Truyền, anh Hạnh, anh Thảo, anh Lặc.

Ông Nghiệp phải có nghĩa vụ thối chênh lệch cho ông Châu, anh Dã, chị Chơn, chị Xuân, anh Nhiên và bà Truyền mỗi người là 587.400 đ”.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 08-5-1997, ông Huỳnh Văn Nghiệp có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý với bản án sơ thẩm và cho rằng toàn bộ nhà, đất đang tranh chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 106/DSPT ngày 25-3-1999, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

“Sửa án sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn Nghiệp.

Bác yêu cầu đòi chia thừa kế của các ông, bà Huỳnh Văn Châu, Huỳnh Văn Dã, Huỳnh Thị Chuyền, Huỳnh Văn Nhiên, Nguyễn Thị Xuân và Võ Thị Chơn đối với ông Huỳnh Văn Nghiệp.

Công nhận tờ di chúc ngày 27-9-1968 của bà Phạm Thị Gương cho đứt căn nhà sàn lợp lá tại liên gia 26/2 ấp Phú Hữu, xã Phú Lâm, (Châu Đốc) cho ông Huỳnh Văn Nghiệp là hợp pháp”.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Huỳnh Văn Nhiên, ông Huỳnh Văn Dã, ông Huỳnh Hiếu Thảo khiếu nại với nội dung không công nhận di chúc, yêu cầu được chia thừa kế di sản cụ Điển, cụ Gương để lại.

Tại Quyết định số 344/KNDS ngày 21-12-2000, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm số 106/DSPT ngày 25-3-1999 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử việc chia thừa kế có các đương sự là ông Huỳnh Văn Châu, ông Huỳnh Văn Dã, bà Huỳnh Thị Chuyền, ông Huỳnh Văn Nhiên, bà Nguyễn Thị Xuân, bà Võ Thị Chơn, ông Huỳnh Văn Nghiệp và đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo thủ tục chung.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 78 ngày 17-4-2001, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

“- Hủy bản án sơ thẩm số 130/DSST ngày 08-5-1997 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân và bản án phúc thẩm số 106 ngày 25-3-1999 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử việc tranh chấp di sản thừa kế giữa đồng nguyên đơn là các ông, bà Huỳnh Văn Châu, Huỳnh Văn Dã, Huỳnh Thị Chiền, Huỳnh Văn Nhiên, Nguyễn Thị Xuân, Võ Thị Chơn với bị đơn là ông Huỳnh Văn Nghiệp.

- Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ kiện kể trên về Tòa án nhân dân tỉnh An Giang điều tra, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm với hướng đưa các con ông Huỳnh Văn Bảo, bà Huỳnh Thị Đạm và tất cả các hộ đang cư trú trên diện tích đất có tranh chấp tham gia tố tụng, lấy lời khai, giám định dấu vân tay, chữ ký của tất cả những người có tên trên tờ “cho đất cho nhà”, xem xét cây trái trồng trên đất”.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 63/DSST ngày 17-9-2001, Toà án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

“1. Di sản thừa kế của ông Huỳnh Văn Điển và bà Phạm Thị Gư­ơng có giá trị= 19.349.300 đ.

2. Ông Bảo, bà Đạm, ông Châu, bà Chiền, bà Lệnh, ông Đô và ông Nghiệp mỗi thừa kế được chia 2.764.185 đ.

 3. Giao ông Nghiệp sở hữu nhà và sử dụng 3.503,5m2 đất (2.935,7m2 hiện trồng mía và 567,8m2 ao hầm). Ông Nghiệp hoàn thừa kế cho:

+ Ông Huỳnh Văn Châu 2.764.185 đ.

(Do ông Thảo đại diện nhận).

+ Ông Huỳnh Văn Bảo 2.764.185 đ.

(Do ông Dã đại diện nhận).

+ Bà Huỳnh Thị Chiền 2.764.185 đ.

(Do ông Hạnh đại diện nhận).

+ Ông Huỳnh Văn Đô 2.764.185 đ.

(Do ông Hóa (Nhiên) đại diện nhận).

+ Bà Huỳnh Thị Đạm 2.764.185 đ.

(Do chị Tuyết đại diện nhận).

+ Bà Huỳnh Thị Lệnh 2.764.185 đ.

(Do chị Lành  đại diện nhận).

4. Ổn định cho các hộ đang sử dụng diện tích có nhà trên đất:

+ Huỳnh Văn Lặc 66,8m2.

+ Huỳnh Hiếu Thảo 83,2m2 + 382,7m2

+ Trần Hữu Hạnh 37,8m2.

+ Huỳnh Hữu Duyên 94,9m2.

+ Huỳnh Văn Hóa (Nhiên) 208,3m2.

+ Huỳnh Văn Dã 137,2m2.

+ Huỳnh Văn Thu 82,4m2.

+ Huỳnh Thị Hằng 65,8m2.

+ Huỳnh Văn Khoa 63,5m2.

+ Nguyễn Văn Bé 73,1m2.

+ Huỳnh Văn Nghiệp 193m2.

+ Phan Thị Tính (Quý) 42,8m2.

+ Huỳnh Thị Chiền 55,1m2.

+ Huỳnh Văn Mỹ 78m2.

+ Trần Thanh Nhàn 64,1m2

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26-9-2001, ông Huỳnh Văn Nghiệp kháng cáo với nội dung: Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng 3.503,5m2 đất thổ cư­, vư­ờn tạp là di sản thừa kế của cha mẹ ông, đồng thời chia thừa kế cho các đồng nguyên đơn là không đúng.

Ông Huỳnh Văn Dã (con ông Bảo), ông Trần Hữu Hạnh (con bà Chiền), bà Đàm Thị Tuyết (con bà Đạm), bà Nguyễn Thị Xuân (con bà Lệnh) kháng cáo yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 82/DSPT ngày 25-03-2003, Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

“- Xử hủy toàn bộ án dân sự sơ thẩm số 63/DSST ngày 17-9-2001 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã xét xử giữa nguyên và bị đơn như đã nêu trên, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung”.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 69/DSST ngày 08-10-2004, Toà án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

 “1. Công nhận di sản thừa kế của cụ Huỳnh Văn Điển và cụ Phạm Thị Gương gồm: 01 căn nhà số 26/2 ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm và 3.503,50m2 đất thổ c­ư + v­ườn tạp tọa lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm có tổng giá trị là 113.276.600 đồng.

2. Giao cho ông Huỳnh Văn Nghiệp đ­ược sở hữu căn nhà sàn (xưa cũ) tại số 26/2 và (tạm giao) quyền sử dụng 3.503,50m2 thổ c­ư + v­ườn tạp tọa lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, ông Nghiệp có trách nhiệm hoàn giá trị thừa kế cho các đồng thừa kế gồm:

- Ông Huỳnh Hiếu Thảo (chi của ông Châu) 16.182.371 đồng.

- Ông Huỳnh Văn Hóa (chi của ông Đô) 16.182.371 đồng.

- Ông Huỳnh Văn Dã (chi của ông Bảo) 16.182.371 đồng.

- Ông Trần Hữu Hạnh (chi của bà Chiền) 16.182.371 đồng.

- Bà Đàm Thị Tuyết (chi của bà Đạm) 16.182.371 đồng.

- Bà Phan Thị Lành (chi của bà Lệnh) 16.182.371 đồng.

3. Ổn định cho các hộ đang sử dụng diện tích đất có nhà trên đất gồm:

- Huỳnh Hiếu Thảo 83,20m2 + 382,70m2

- Huỳnh Văn Lặc 66,80m2;

- Huỳnh Hữu Duyên 94,90m2;

- Trần Hữu Hạnh 37,80m2;

- Huỳnh Văn Hóa (Nhiên) 208,30m2;

- Huỳnh Văn Dã 137,20m2;

- Huỳnh Văn Thu 82,40m2;

- Huỳnh Thị Hằng 65,80m2;

- Huỳnh Văn Khoa 63,50m2;

- Nguyễn Văn Bé 73,10m2;

- Huỳnh Văn Nghiệp 193,00m2;

- Phan Thị Tính (Quý) 42,80m2;

- Huỳnh Thị Chiền 55,10m2;

- Huỳnh Văn Mỹ 78,00m2;

- Trần Thanh Nhàn 64,10m2.

4. Về án phí: Các ông (bà) Thảo, Chiền, Dã, Hóa, Tuyết, Lành, Nghiệp mỗi người phải chịu 719.888 đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp).

Các hộ có tên nêu trên và ông Nghiệp có quyền đăng ký chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12-10-2004, ông Huỳnh Văn Nghiệp kháng cáo với nội dung: không đồng ý chia thừa kế 3503,5m2 đất thổ cư­ và vư­ờn tạp.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 57/DSPT ngày 25-02-2005, Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

“Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn Nghiệp. Giữ nguyên các quyết định của án sơ thẩm nh­ư sau:

1. Công nhận căn nhà 26/2 ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang là di sản của cụ Điển và cụ Gư­ơng (riêng 1/2 căn nhà cụ G­ương đã cho đứt ông Huỳnh Văn Nghiệp) và 3.503,50m2 thổ c­ư và v­ườn tạp tọa lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang có tổng giá trị là 113.276.600 đồng (không tính 1/2 giá trị căn nhà của bà G­ương cho ông Nghiệp). Đ­ược chia di sản cho 7 kỷ phần mỗi kỷ phần đ­ược nhận 16.182.371 đồng.

2. Ông Huỳnh Văn Nghiệp đ­ược nhận sở hữu căn nhà 26/2 và quyền sử dụng 3.503,50m2 thổ c­ư + v­ườn tạp tọa lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Ông Huỳnh Văn Nghiệp có trách nhiệm hoàn giá trị phần thừa kế cho những ng­ười sau:

- Ông Huỳnh Hiếu Thảo (đại diện chi ông Châu) = 16.182.371 đồng.

- Huỳnh Văn Hóa (đại diện chi ông Đô) = 16.182.371 đồng.

- Huỳnh Văn Dã (đại diện chi ông Bảo) = 16.182.371 đồng.

- Trần Hữu Hạnh (đại diện chi bà Chiền) = 16.182.371 đồng.

- Đàm Thị Tuyết (đại diện chi bà Đạm) = 16.182.371 đồng.

- Phan Thị Lành (đại diện chi bà Lệnh) = 16.182.371 đồng.

3. Ổn định quyền sử dụng đất cho các hộ đã sử dụng diện tích đất để cất nhà ở và có trách nhiệm liên hệ cơ quan hữu quan để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở bao gồm:

- Huỳnh Hiếu Thảo:  83,20m2 thổ c­ư và 382,70m2 đất v­ườn. 

- Huỳnh Văn Lặc 66,80m2 thổ c­ư.

- Huỳnh Hữu Duyên=  94,90m2.

- Trần Hữu Hạnh = 37,80m2.

- Huỳnh Văn Hóa (Nhiên) = 208,30m2.

- Huỳnh Văn Dã = 137,20m2.

- Huỳnh Văn Thu = 82,40m2.

- Huỳnh Thị Hằng = 65,80m2.

- Huỳnh Văn Khoa = 63,50m2.

- Nguyễn Văn Bé = 73,10m2.

- Huỳnh Văn Nghiệp = 193,00m2.

- Phan Thị Tính = 42,80m2.

- Huỳnh Thị Chiền = 55,10m2.

- Huỳnh Văn Mỹ = 78,00m2.

- Trần Thanh Nhàn = 64,10m2”.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Huỳnh Văn Nghiệp khiếu nại bản án phúc thẩm nêu trên với nội dung: Không đồng ý chia thừa kế vì việc tranh chấp 3.503,5m2 đất thổ cư­ và vư­ờn tạp đã được Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân giải quyết bằng Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996; mặt khác, diện tích đất tranh chấp chư­a đ­ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tại Quyết định số 21/2008/DS-KN ngày 19-02-2008, Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 57/DSPT ngày 25-02-2005 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm số 57/DSPT ngày 25-02-2005 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 69/DSST ngày 08-10-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm lại, với nhận định:

“… Cụ Điển, cụ Gương đã để lại khối tài sản là nhà, đất đang tranh chấp nêu trên; tuy nhiên năm 1995, bà Huỳnh Thị Chiền, ông Huỳnh Văn Châu, ông Huỳnh Văn Dã (là con ông Huỳnh Văn Bảo), ông Huỳnh Văn Hóa (là con ông Huỳnh Văn Đô), anh Phan Văn Tỏ (là con bà Huỳnh Thị Lệnh) và chị Võ Thị Chơn (là con bà Huỳnh Thị Đạm) đã tranh chấp diện tích đất thổ c­ư và vườn tạp của cụ Điển, cụ G­ương để lại do ông Nghiệp (con út của cụ Điển, cụ Gương) đang quản lý, sử dụng. Tại Thông báo số 71/TB.UB ngày 08-11-1995, Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Vàm đã xác định: “…Căn cứ các lời khai của đôi bên cho biết: đất này của ông Điển giao lại cho ông Nghiệp là thừa kế quản lý, sử dụng từ 1960 đến nay, do đó họ tộc, anh, em không còn quyền thừa hưởng trên phần đất này… Về việc xin chia đến 7 phần trên diện tích đất thổ cư 24m x 200m thì  hiện nay ch­ưa có chủ trư­ơng chia đất thổ c­ư”. Do các đ­ương sự không đồng ý với việc giải quyết của Uỷ ban nhân dân thị trấn Chợ Vàm, nên có đơn khiếu nại và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân giải quyết. Tại Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996 về việc giải quyết khiếu nại, Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã quyết định:  “Bác yêu cầu đòi chia đất thổ c­ư, v­ườn tạp có diện tích 4080m2 của các ông, bà Huỳnh Văn Châu, Huỳnh Thị Chiền, Huỳnh Văn Dã, Huỳnh Văn Nhiên, Phan Văn Tỏ, Võ Thị Chơn; giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất thổ c­ư, v­ườn tạp có diện tích 4080m2 cho ông Huỳnh Văn Nghiệp toạ lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm (trong đó có 19 hộ đang c­ư trú  ổn định)”. Như vậy, tranh chấp quyền sử dụng đất 4080m2 nêu trên đối với ông Nghiệp đã đ­ược Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân giải quyết bằng Quyết định hành chính và cho đến thời điểm Toà án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự này thì Quyết định nêu trên không bị huỷ hoặc sửa đổi nên vẫn có hiệu lực. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm khi giải quyết yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn trong vụ án này, vẫn xác định phần diện tích đất thổ c­ư và v­ườn tạp 3503,5m2 do ông Nghiệp đang quản lý, sử dụng là tài sản thừa kế của cụ Điển, cụ G­ương để lại và phân chia cho các thừa kế bằng giá trị là không đúng; hơn nữa, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm quyết định ổn định quyền sử dụng đất cho các hộ đã sử dụng diện tích đất để cất nhà ở là ch­ưa chính xác.    

Đối với căn nhà sàn lợp lá có trên diện tích đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng cụ Điển, cụ G­ương; năm 1967 cụ Điển chết không để lại di chúc, ngày 27-9-1968, cụ Gư­ơng lập “Tờ cho đứt cho nhà” với nội dung cho ông Nghiệp căn nhà nêu trên (có các con, cháu của cụ Gư­ơng và một số nhân chứng ký tên xác nhận). Do đó, việc cụ Gư­ơng lập  “Tờ cho đứt cho nhà” chỉ có hiệu lực pháp lý đối với 1/2 căn nhà thuộc quyền sở hữu của cụ G­ương và đối với kỷ phần thừa kế mà cụ G­ương đư­ợc hư­ởng từ 1/2 căn nhà là di sản của cụ Điển. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chỉ xác định ông Nghiệp đ­ược hưởng 1/2 giá trị căn nhà là ch­ưa chính xác.

Vì vậy, cần huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, xét xử sơ thẩm lại để xác minh, thu thập thêm chứng cứ xác định diện tích đất mà Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân đã giải quyết tại Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996 có trùng với diện tích đất đang tranh chấp hay không? nếu diện đất đang tranh chấp đã đ­ược Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân giải quyết tại Quyết định nêu trên thì đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 168 và khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và Toà án chỉ giải quyết về thừa kế quyền sử dụng đất đối với diện tích mà Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân chư­a giải quyết; đồng thời giải quyết việc chia thừa kế căn nhà như­ đã phân tích nêu trên”.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận Kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; hủy bản án dân sự phúc thẩm số 57/DSPT ngày 25-02-2005 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 69/DSST ngày 08-10-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định vợ chồng cụ Huỳnh Văn Điển, cụ Phạm Thị Gư­ơng tạo lập được căn nhà sàn lợp lá diện tích 70m2 trên 5.232,2m2 đất thổ cư­, v­ườn tạp tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Sau khi hai cụ chết, ông Huỳnh Văn Nghiệp quản lý, sử dụng căn nhà và 3.503,5m2 đất (thổ cư­ và v­ườn tạp); còn lại 1.728,7m2 đất thổ cư­ và v­ườn tạp do nhiều hộ gia đình là con, cháu trong họ tộc của cụ Điển, cụ Gương xây dựng nhà ở ổn định.

Năm 1995, giữa ông Nghiệp với các ông, bà Huỳnh Văn Châu, Huỳnh Thị Chiền, Huỳnh Văn Dã (con ông Huỳnh Văn Bảo), Huỳnh Văn Hóa (con ông Huỳnh Văn Đô), Phan Văn Tỏ (con bà Huỳnh Thị Lệnh), Võ Thị Chơn (con bà Huỳnh Thị Đạm) có tranh chấp diện tích đất thổ c­ư, v­ườn tạp do ông Nghiệp đang quản lý, sử dụng. Tại Thông báo số 71/TB.UB ngày 08-11-1995, Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã xác định: “…đất này của ông Điển giao lại cho ông Nghiệp là thừa kế quản lý, sử dụng từ 1960 đến nay, do đó họ tộc, anh, em không còn quyền thừa h­ưởng trên phần đất này…Về việc xin chia đến 7 phần trên diện tích đất thổ c­ư 24m x 200m thì  hiện nay ch­ưa có chủ trư­ơng chia đất thổ c­ư”. Do các đ­ương sự khiếu nại Thông báo nêu trên, nên Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996 về việc giải quyết đơn khiếu nại, có nội dung: “Bác yêu cầu đòi chia đất thổ c­ư, v­ườn tạp có diện tích 4.080m2 của các ông, bà Huỳnh Văn Châu, Huỳnh Thị Chiền, Huỳnh Văn Dã, Huỳnh Văn Nhiên, Phan Văn Tỏ, Võ Thị Chơn; giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất thổ c­ư, vườn tạp có diện tích 4.080m2 cho ông Huỳnh Văn Nghiệp toạ lạc tại ấp Phú Hữu, thị trấn Chợ Vàm (trong đó có 19 hộ đang c­ư trú ổn định)”.

Như vậy, trên diện tích đất đang tranh chấp có nhà của hai cụ (đã được ông Nghiệp sửa chữa) và có nhà của 19 hộ gia đình là con, cháu trong họ tộc của hai cụ ở đây. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang chỉ giải quyết tranh chấp về đất đai, không giải quyết về tài sản là các căn nhà gắn liền với diện tích đất đang tranh chấp. Thông báo số 71/TB.UB ngày 08-11-1995 của Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nêu là chưa có chủ trương chia đất thổ cư; còn Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996 của Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thì không rõ ràng vì chưa xác định rõ ông Nghiệp có quyền sử dụng đất hợp pháp hay không? các hộ gia đình ở đây (19 hộ) có được sử dụng phần đất mà họ đã làm nhà không? Lẽ ra, khi giải quyết vụ án Tòa án các cấp phải yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang xem xét lại việc Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân giải quyết tranh chấp về đất đai (nhưng trên đất này có nhà ở) thì có đúng thẩm quyền không? đồng thời xem xét lại tính hợp pháp của Quyết định số 254/QĐ.UB ngày 23-5-1996 của Uỷ ban nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, thì mới đủ căn cứ để giải quyết vụ án. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm vẫn xác định 3.503,50m2 đất thổ c­ư, v­ườn tạp do ông Nghiệp quản lý, sử dụng là di sản của cụ Điển, cụ Gương để phân chia thừa kế, đồng thời quyết định ổn định quyền sử dụng đất cho các hộ đang sử dụng diện tích 1.728,7m2 đất để cất nhà ở là không có căn cứ. Hơn nữa, diện tích đất tranh chấp được ghi trong Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang là 4.080m(trong đó có phần đất mà 19 hộ gia đình là con cháu trong họ tộc của cụ Điển, cụ Gương đã làm nhà ở), nhưng diện tích đất thực tế đang tranh chấp hiện nay là 5.232,2m2 (trong đó ông Nghiệp quản lý 3.503,5m2 đất và 16 hộ gia đình là con, cháu trong họ tộc của cụ Điển, cụ Gương xây dựng nhà ở trên 1.728,7m2 đất). Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa làm rõ về sự chênh lệch diện tích nêu trên là chưa giải quyết triệt để vụ án.

Đối với căn nhà sàn lợp lá có trên diện tích đất đang tranh chấp: năm 1967 cụ Điển chết không để lại di chúc; ngày 27-9-1968, cụ Gư­ơng lập “Tờ cho đứt cho nhà” với nội dung “…Nay tôi đứng lập tờ này cho đứt cái ngôi nhà nói trên cho con út tôi là Huỳnh Văn Nghiệp để trọn quyền sửa chữa để nuôi tôi và phụng tự ông bà…” (“Tờ cho đứt cho nhà” này có chữ ký đề tên của 3 trong số 7 người con của hai cụ và một số người trong họ tộc của cụ Gư­ơng ký tên xác nhận bằng lòng với ý kiến của cụ Gương). “Tờ cho đứt cho nhà” này về thực chất là việc cho tặng nhà để thờ cúng của cụ Gương và có hiệu lực đối với 1/2 căn nhà thuộc phần sở hữu của cụ Gương cùng kỷ phần thừa kế của cụ Gương được hưởng từ di sản của cụ Điển; do đó, ông Nghiệp được hưởng phần này. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chỉ xác định ông Nghiệp đ­ược hưởng 1/2 giá trị căn nhà là không đúng.

Về tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm giải quyết việc chia thừa kế di sản của cụ Điển, cụ Gương và xác định được hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ là 7 người con (trong đó có 5 người gồm ông Bảo, bà Đạm, ông Châu, bà Lệnh, ông Đô đã chết), nhưng lại không làm rõ ông Bảo, bà Đạm, bà Lệnh, ông Đô chết năm nào và những người thừa kế của họ; không triệu tập đầy đủ những người thừa kế của ông Bảo, bà Đạm, ông Châu, bà Lệnh, ông Đô tham gia tố tụng là không đúng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 57/DSPT ngày 25-02-2005 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 69/DSST ngày 08-10-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về vụ án tranh chấp thừa kế và đòi tài sản giữa các đồng nguyên đơn là các ông, bà Huỳnh Hiếu Thảo, Huỳnh Thị Chiền, Huỳnh Văn Dã, Huỳnh Văn Hóa, các chị Đàm Thị Tuyết, Phan Thị Lành với bị đơn là ông Huỳnh Văn Nghiệp; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Hữu Duyên, các anh, chị Huỳnh Thị Hằng, Phan Thị Tính, Huỳnh Văn Lặc, Huỳnh Văn Thu, Huỳnh Văn Khoa, Nguyễn Văn Bé, Huỳnh Văn Mỹ, Trần Thanh Nhàn, Huỳnh Thị Suông, Huỳnh Thành Lộc.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân An Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án các cấp không xem xét việc Ủy ban nhân dân huyện giải quyết tranh chấp về đất đai giữa các đương sự có đúng thẩm quyền hay không mà giải quyết tranh chấp ngay là chưa đủ căn cứ; đã không triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 06/2008/DS-GĐT ngày 12/05/2008 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

Số hiệu:06/2008/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/05/2008
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về