Bản án 36/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 36/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Tiền sự: Ngày 26/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đắk Lăk, thời hạn là 24 tháng theo quyết định số 07/2016/QĐ- TA ngày 18/3/2016. Ngày 03/10/2017 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính.

Nhân thân: Ngày 01/4/2013 bị Công an huyện K xử phạt hành chính hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25 ngày 01/4/2013.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1/ Anh Hoàng Phương N, sinh năm 1994

2/ Anh Hoàng Nam T2, sinh năm 1986.

Cùng trú tại: Buôn Năc, xã Ea Bông, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc L là người nghiện ma túy. Khoảng 23h ngày 11/10/2018, Nguyễn Quốc L mượn xe máy biển kiểm soát 51S9-8626 nhãn hiệu SANDA của anh Vũ Đức T3, trú tại: Buôn M Blớt, xã Ea Bông, huyện K, tỉnh Đắk Lắk chở Hà Trấn T4, sinh ngày 11/02/2005 và Hoàng Luân V, sinh ngày 01/8/2005 đi lên phường KX, Tp. B để mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực ngã ba Duy Hòa, phường K, Tp. B thì gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) bán cho cho L 200.000đ ma túy tổng hợp. Mua được ma túy xong thì L chở T4 và V về lại huyện K. Khoảng 02h30’ ngày 12/10/2018, trên đường đi đến buôn B, xã EBô, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, T4 phát hiện trong sân nhà anh Hoàng phương N có treo hoa phong lan nên T4 nói L: Anh ơi, em thấy có giò phong lan dễ lấy lắm, anh dừng xe để em vào lấy” thì L dừng xe trước nhà anh N để T4 vào lấy trộm Phong lan. Còn L và V ngồi trên xe máy đợi. T4 đi vào sân nhà anh N lấy trộm được một giò phong lan rồi đi ra ngoài thì bị anh N phát hiện đuổi theo. T4 nhảy lên xe máy rồi L điều khiển xe chở T4 và V bỏ chạy về hướng thị trấn B, huyện K, trên đường bỏ chạy T4 đã vứt lại giỏ phong Lan. Khi L chạy đến Buôn M, xã EB, huyện K thì bị Công an bắt giữ. Thu giữ của Nguyễn Quốc L gồm: 01 túi xách màu đen và chiếc xe máy biển kiểm soát 51S9-8626 ( L đã thay biểm kiểm soát số 47H9-9129 do L nhặt được). Còn Hà Trấn T4 và Hoàng Luân V chạy thoát. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã kiểm tra túi xách (ba lô) của L thì phát hiện trong túi xách có 01 hộp nhựa màu đen, bên trong hộp nhựa có 05 gói nhựa màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng (L khai nhận là ma túy đá), 01 dụng cụ bằng thủy tinh để sử dụng ma túy đá.

Tại bản kết luận giám định số: 911/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 05 gói nhựa màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong gữi gíam định là ma túy, có khối lượng 0.2453 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản kết luận định giá số 149 ngày 30/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kkết luận: 01 giò Phong lan, loại Lông tu trị giá 500.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận vào ngày 12/10/2018 bị cáo có đi mua ma túy của một người đàn ông ở khu vực ngã ba Duy Hòa, Tp. B để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, khi bị cáo trên đường đi về huyện K thì bị Công an huyện K bắt quả tang.

Cáo trạng số 36/KSĐT-HS ngày 13/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Quốc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.2176 gam ma túy, loại Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định), 01 túi xách màu đen, 01 dụng cụ bằng thủy tinh để sử dụng ma túy, 01 hộp nhựa màu đen.

Bị cáo Nguyễn Quốc L không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Quốc L tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 02h30’ ngày 12/10/2018 tại khu vực Buôn M, xã Ea Bông, huyện K, khi Nguyễn Quốc L đang tàng trữ trái phép 0.2453 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kphát hiện bắt quả tang. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3]. Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Lvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV – AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ khả năng nhận thức và buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật bị cáo Nguyễn Quốc L đã mua 0.2453gam ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000đ để sử dụng. Về nhân thân bị cáo vào năm 2013 đã bị Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vào Ngày 26/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đắk Lăk, thời hạn là 24 tháng theo quyết định số 07/2016/QĐ-TA ngày 18/3/2016. Sau khi chấp hành xong biện pháp cai nghiện tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đắk Lăk nhưng chưa xóa tiền sự, bị cáo không thay đổi lối sống, tiếp tục đi vào con đường nghiện ngập. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên, cần áp dụng hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời có tác dụng răng đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4].Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn QuốcL,ở phường K, Tp. B. Quá trình điều tra chưa xác minh đuợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với chiếc xe máy biểm kiểm soát 51S9.8626 do Nguyễn Quốc L mượn của anh Vũ Đức T3 đi, sau đó dùng phương tiện vào việc phạm tội. Anh T3 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra quyết định trả lại chiếc xe máy biển số 51S9.8626 cho anh T3 là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

Đối với Hoàng Luân V, Hà Trấn T4 và Nguyễn Quốc L có hành vi trộm cắp tài sản là 01 giỏ phong lan , trị giá 500.000đ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, Hoàng Luân V mới 13 tuổi 01 tháng 10 ngày, Hà Trấn T4 mới 13 tuổi 08 tháng (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K không xử lý đối với V và T4 là đúng quy định của pháp luật. Đối với Nguyễn Quốc L Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đúng quy định của pháp luật.

[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.2176 gam ma túy, loại Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định), 01 túi xách màu đen, 01 dụng cụ bằng thủy tinh để sử dụng ma túy, 01 hộp nhựa màu đen.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, ngày 15/11/42018)

 [6]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc L 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/10/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.2176 gam ma túy, loại Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định), 01 túi xách màu đen, 01 dụng cụ bằng thủy tinh để sử dụng ma túy, 01 hộp nhựa màu đen.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, ngày 15/11/2018)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:36/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông A Na - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về